Cây súng vầng trăng

NGÔ NHƯ SÂM





CÂY SÚNG  
VẦNG TRĂNG













TẬP THƠ THỜI CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1964-1968)

             



Rời ghế trường đại học,
Tổ quốc gọi lên đường
Xin mẹ thôi đừng khóc
Để con ra chiến trường.

Bút nghiên nay tạm gác,
Súng cầm chắc trong tay
Con đi ra tiền tuyến
Theo bóng đỏ cờ bay.

Làm trai thời gặp loạn
Làm gái ở thời bình”
Con đi có chúng bạn
Cùng đồng lứa tòng chinh...

*    *
   *
Lệnh rồi! Còi gọi giục
Chào mẹ! Con ra đi
Ngày mai chiến thắng con về
Làm thầy! Trọn nghĩa với nghề con yêu.
Hà Nội, ngày 31 tháng 7 năm 1964



Thôi tạm biệt nhé những bàn tay vẫy,
Ta khoác ba lô hăm hở lên đường
Rời Hà Nội một buổi chiều tháng bảy
Mắt sáng ngời, mặt rạng rỡ như gương.

Quần áo mũ xanh màu xanh quân phục,
Ta giắt bên mình cành lá nguỵ trang
Xe ta đi trong sương chiều mờ đục
Mũ chạm mây, lấp lánh ánh sao vàng.

Đường hành quân nhằm hướng lên Tây Bắc,
Dưới thung sau, ngàn lau trắng xôn xao
Chưa đến nơi, điểm dừng còn xa lắc
Vọng bên tai, tiếng thác đổ ào ào.

Tiếng vượn hú và tiếng chim gọi bạn,
Đầy áp không gian, đầy vẻ hoang sơ
Xe dừng tạm bên bờ con suối cạn
Ngàn vạn bướm bay, trắng cả đôi bờ.

Họ nhà bướm rủ nhau đi trẩy hội,
Hay chúng đang làm một cuộc hành hương
Cùng cháu con trở về nơi nguồn cội
Nườm nượp bướm bay, trắng các ngả đường….
Núi! Tiếp núi! Dựng! Bốn phía thẳng đứng!
Ngửa mặt lên chỉ thấy một khung trời,
Đá xám gan gà tím màu chịu đựng
Ta đi trong mây, bồng bềnh chơi vơi…

Trầm mơ đôi nét nhà sàn thấp thoáng,
Mái lá bạc màu mưa nắng thời gian
Bình yên bên những chòm mây bảng lảng
Thánh thót gần xa vẳng tiếng suối đàn.

                        *  *
                          *
Tây Bắc đó, đã bao lần nhắc nhở,
Nay đến rồi, chẳng phải ở trong mơ
Biết tên Người qua những trang sách vở
Tây Bắc kiêu hùng. Tây Bắc như thơ.

Từ hôm nay trên vai ta gánh nặng,
Tổ quốc ta là cây súng hiện thân
Là đời lính, là dãi dầu mưa nắng
Là tình yêu, ta chẳng chút ngại ngần!
Châu Mộc, 31 tháng 7 năm 1964



Nửa đêm về sáng, trăng lu,
Vầng đông gần rạng, sương mù dần tan.
Bản xa gà gáy lân lan,
Suối sa, nước réo râm ran sau đồi.
Giờ này, thức một mình tôi,
Hiên ngang đứng gác giữa trời Thảo nguyên.
Thảo nguyên Châu Mộc
Tháng 7 năm 1964


BÊN MÂM PHÁO
MÙA XUÂN

Đã thấy đào cười trong gió đông,
Năm cánh hoa tươi hé môi hồng
Bên cây súng thép anh pháo thủ
Ngước mắt nhìn trời, đôi mắt trong.
Ngày Mùng Một tết Bính Ngọ
Trận địa Vườn Đào



(Nhân chuyến đi B của các chiến hữu
mà mình không được tham gia)

Một vùng trời nhỏ trong veo,
Sao viền cửa sổ, trăng treo góc màn”.
Vi vu xào xạc gió ngàn,
Vòm sao Bắc đẩu vắt ngang bên trời.

Lòng ta sao xẻ làm đôi,
Nửa trong giấc ngủ, nửa nơi chiến trường.
Lòng ơi sao những vấn vương,
Bâng khuâng mộng gửi chiến trường nẻo xa.

Lung linh một dải Ngân hà,
Ta nghe đất nước gọi ta lên đường.
Xa xa, gà giục canh trường...
Tây Bắc, tháng 6 năm 1966



( Tặng HC-cán bộ Đoàn,
đơn vị Lâm nghiệp kết nghĩa )


“Đêm nay sao lặn góc trời
Trăng treo đầu súng, nhớ người phương xa”

Ôi nhớ sao một đêm dưới biển vàng trăng sáng,
Giữa sân bay lộng gió bốn phương trời
Tôi gặp em và gặp người đồng chí
Những kỷ niệm đầu còn đọng mãi trong tôi.

Mới gặp em, chuyện vui chưa nói hết,
Lại xa em - người đồng chí yêu thân
Rồi hành quân lên đường tôi bước tiếp
Tuy xa nhau nhưng tình nghĩa vẫn gần.

Em trở về với rừng xanh núi biếc,
Chọn hạt ươm cây, vun gốc, uốn cành
Xén tóc đồi hoang, tỉa trồng rừng mới
Cho mai ngày Tổ quốc mãi tươi xanh.

Có nghe chăng em hỡi trong lòng đất,
Động đậy mầm non khẽ nảy chồi?
Có vui chăng khi vườn ươm trở dạ
Trong đêm xuân, trời ấm, ít sương rơi?
Xa em, lên đường hành quân tôi bước tiếp,
Đâu có giặc là ta ắt tới nơi
Bàn chân ta qua núi rừng trùng điệp
Tay vén mây cho sáng những vòm trời!

Có vui chăng ơi người em xa vắng,
Khi quân thù gục ngã tơi bời?
Em có nghe tin mừng chiến thắng
Nổ loạt đầu thêm một máy bay rơi?

Tôi sẽ lại về đây! Ơi những người bạn trẻ,
Ơi người em, người chị, người anh
Ta xa nhau nhưng tình gần gũi
Mỗi độ xa nhau, mỗi độ trưởng thành.
Nghĩa Lộ ngày kết nghĩa với đơn vị lâm trường
Bản Tông Cơ - Tháng 2 năm 1966



Một thằng Mỹ tan,
Hai thằng Mỹ tan,
Pháo này ta bắn một đàn Mỹ rơi.

Một thằng rơi,
Hai thằng rơi
Pháo này ta bắn bỏ đời Giôn-Sơn.

Pháo ta khạc lửa căm hơn,
Thiêu bầy quạ Mỹ rửa cơn hận này.

Pháo trường trăng sáng đêm nay,
Vàng gieo ánh thép tràn đầy ngân nga.

Pháo của ta,
Súng của ta,
Ta yêu. Ta quí. Ta ca. Ta mừng….
Trận địa Đồi Vành Khăn
(Gần Ngã ba Cô Thiên)


(Nhân qua Suối Sập Bắc Yên- Nghĩa lộ)

Bồng bềnh bốn nhịp cầu treo,
Bóng in đáy nước, vàng gieo giữa dòng.
Ơi vầng trăng sáng, trăng trong,
Rót thêm ánh bạc cho lòng ta vui.

Hả hê cầu bắc xong rồi,
Trăng thay mặt trời đốt đuốc giúp ta.
Ngày mai, xe pháo vào ra,
Chẳng phải luỵ phà vừa khó, vừa lâu.

Anh người chiến sỹ đường cầu,
Bắt núi phải cúi, sông sâu nhường mình.
Ơi vầng trăng sáng trăng xinh,
Thấy không, người lính công binh cầu đường?
Tháng 3 năm 1966




Long lanh đáy nước in trời,
Tà Vài soi bóng mỉm cười hiên ngang(*)
Đêm đêm trăng trải ánh vàng,
Câu hò bay bổng ngân vang núi rừng.

Ngời ngời đèn đuốc sáng trưng,
Chung tay cào cuốc, lấp từng hố bom.
Đồi cao tiếng Pháo nổ ròn,
Bủa vây lưới thép, bắt con “quạ trời”.

Trời xanh, lửa đỏ sáng ngời,
Rộn ràng tiếng nói câu cười hân hoan.
Giặc kia ta đã đánh tan,
Lại vui câu hát, tiếng đàn đêm xuân.

Đường vui rộn rã bước chân,
Cầu rung theo bánh xe vần trong sương.
Đêm nay trên những nẻo đường,
Quân đi nhộn nhịp bốn phương đất trời.

Tà Vài kiêu dũng mỉm cười,
Dang tay rộng mở đón người, xe qua.
Cầu rung theo nhịp ngân nga,
Hoà vang hành khúc quân xa oai hùng.

Pháo xe điệp điệp trùng trùng,
Lòng ta vui, cũng thức cùng quân đi.


                      Tà Vài . Tháng 3 năm 1966




















(*) Tà Vài, chiếc cầu quan trọng trên đường số 6 - Hà Nội đi Sơn La, Châu Yên - Sơn La,.


(Kính tặng liệt sỹ Nguyễn Tuấn Nhã,
Người đã cùng tôi ngủ trên chiếc giường tre này đêm trước ngày
anh hy sinh ngày 1-10-1966 tại trận giạ Bản Cù, Phù Yên, Nghĩa Lộ)

Đã nghe én biếc gọi đông về,
Đỉnh núi chiều mờ khoác áo the.
Đã thấy con nai tìm suối nóng,
Rừng sương hơi lạnh ngợp bốn bề.

Lòng thấy thương thương anh bộ đội,
Đêm nay ngủ tít trên đồi cao,
Chiếu giường không có, sương đêm gội,
Gió núi, mưa rừng, ngủ được sao?

Gió lạnh nửa đêm lại thổi về,
Em thấy long sao những tái tê,
Mấy anh bộ đội trên đồi pháo,
Chắc là thao thức suốt đêm khuya.

Chúng em chăn ấm lại đệm êm,
Than hồng sưởi lửa suốt trong đêm,
Con gà ngon giấc quên trời dậy,
Trâu ngựa trong chuồng ngủ say yên.

Em biết quê anh tự bốn phương,
Về đây đánh Mỹ giữ bản mường.
Ban ngày căng mắt chờ giặc đánh,
Đêm về gối đất lại nằm sương.

Sớm nay rủ bạn em cùng đi,
Lên rừng, tre nữa đẵn đem về,
Làm chiếc giường tre em đem tặng,
-“Xấu xí nhiều thôi. Anh đừng chê!”

Ôi chiếc giường tre thắm tình dân,
Vật mọn nhưng sao quý vô ngần,
Phải đây giọt nước tình thương mến,
Đang chảy hoà trong biển nhân dân…
Bản Cù - Tháng 12 năm 1966



Trăng sáng đêm nay giữa pháo trường,
Lòng ơi sao bỗng thấy yêu thương
Những nòng pháo thép còn vương khói
Của buổi chiều nay diệt đối phương.
Trận địa Đội Biên Cương
Ngày 18 tháng 11 năm 1965



Tiếng thơ Nam quốc sơn hà”,
Theo ta khắp nẻo đường xa quân hành.

Cheo leo sườn dốc lượn quanh,
Đầu non chim hót, cuối ghềnh thác reo.
Hành quân nghỉ lại lưng đèo,
Phơ phơ mây trắng, ráng chiều sương pha.

Đẩt trời này của chúng ta,
Bốn nghìn năm diệt gấm hoa kết thành.
Rừng vàng, biển bạc, đồng xanh,
Nước non đâu cũng như tranh hoạ đồ.

Sông Đằng lớp lớp sóng xô,
Ngàn năm còn đỏ máu thù chưa tan.
Chi Lăng, Hàm Tử, Sương Giang,
Đống Đa xác giặc ngổn ngang đầy gò.

Điện Biên vang tiếng quân hò,
Giặc Tây ngơ ngác trắng cờ Mường Thanh.
Sài Gòn Mỹ nguỵ tan tành,
Mậu Thân đại thắng. Hoà bình cầm tay.

Ước mơ xanh ấy bao ngày,
Đổi bao xương máu, hôm nay mới thành.
Lên đường, tiếp bước quân hành,
Ta đi để giữ trời xanh, ruộng cầy.
Trời xanh nâng cánh ta bay,
Núi cao nhường bước chân này thêm cao.

Rừng chiều nắng động xôn xao,
Hương lan quanh quất, rì rào gió lay.
Ta đi nào kể bao ngày,
Vượt bao con thác, rừng cây, cánh đồng.

Qua bao núi, lội bao sông,
Bao phen suối lũ mưa rừng bao phen.
Mắt từng xé mấy đêm đen,
Thân từng mấy bận thay chèn pháo xe.

Tim ơi: Lặng nói, em nghe,
Ta còn đi mãi, ngày về hẹn sau.
Ta đi ta hiểu vì đâu,
Ta làm, ta hiểu vì sao ta làm...

*  *
  *
Chiều buông sắc núi tím lam,
Mặt trời khuất bóng, trăng ngàn vượt lên.
Lá rừng- mắt biếc trăng in,
Ánh sao trên mũ trong đêm dẫn đường.

Sức ta như sóng trùng dương,
Cả dân tộc đã lên đường hành quân.
Bốn nghìn năm trẻ sức xuân,
Dồn lên hai gót bàn chân dạn dầy.
Ta đi mỗi bước đêm nay,
Càng gần tiền tuyến, càng say tinh thần.
Ta đi đầu gối thêm săn,
Bàn chân nối triệu bàn chân nhịp nhàng.

Nghe hồn sông núi âm vang,
Tiếng thơ truyền hịch rộn ràng trong ta.
Việt Nam Tổ quốc gấm hoa,
Hồi kèn xung trận, giục ta lên đường.
Trên đường hành quân Nam tiến
Tháng 1 năm 1969



Đêm nay nhận lệnh hành quân,
Cả đoàn xe pháo tiến quân lên đường.
Trời xanh thắm ánh trăng vàng,
Bánh xe lăn mãi, trăng còn vương theo.

Hành quân qua suối, qua đèo,
Núi cao nhường bước, suối reo hát mừng.
Hành quân qua núi qua rừng,
Hỏi cùng trăng sáng có ưng nhắn gì?

Đêm nay rầm rập xe đi,
Hát mừng chiến thắng, đợi khi ta về.
Đỉnh đèo Lũng Lô Nghĩa Lộ 1966



Đường đi ra tiền tuyến,
Vui như trẩy hội mùa
Nườm nượp xe từng chuyến
Chờ đầy những ước mơ..

Chào anh người chiến sỹ,
Bàn chân không bao giờ biết nghỉ
Mỗi bước anh đi - hoa nở dưới chân
Vành mũ tai bèo đội mây vờn gió
Tiếng sáo theo anh không ngớt vang ngân.

Chào o giao liên,
Mũ nhỏ nghiêng nghiêng
Tiếng cười ngọt lịm
Mắt tựa sao đêm,

Chào em cô dân công,
Bồ quân hồng đôi má
Cũng “tay ngai” theo chồng
Thồ hàng ra tiền tuyến.

Chào em gái văn công,
Cây đàn làm vũ khí
Tiếng hát em giục lòng
Ấm hồn người chiến sỹ.

Đội ngũ ta đi dài suốt bốn nghìn năm,
Cả dân tộc cùng đi diệt Mỹ.
Với trăng sao, vũ trụ lên đường,
Điểm hẹn là nơi ấy:
TIỀN PHƯƠNG!
Tháng 12 năm 1966



Hành quân giữa trưa hè,
Dừng chân bên dốc nắng
Giữa đôi dòng suối vắng
Rừng râm ran tiếng ve...

Mặt trời lên cao vút,
Bông lửa treo lung linh
Sơn ca say ánh sáng
Gieo bài ca mùa lành.

Tiếng ai hò bên dốc
Ngân dài như tiếng chiêng
Câu dân ca quê mẹ
Cánh cò trắng chao nghiêng…

Nằm ngửa, nhìn trời biếc,
Thấy quê mình trong mơ
Những kỷ niệm ấu thơ
Dập dìu bên cánh võng.

Câu hò đang bay bổng
Xôn xao lá rừng xanh
Điệu dân ca ngọt lành
Đang say, sao chững lại?
Bỗng tin đài phát thanh:
“Giặc Mỹ đánh Hà Nội!”
Chợt tim ta nhức nhối
Lòng giục bước quân hành...

Tiếng ai sao ngọt lành:
(Tiếng của người Hà Nội
Vang trong đài phát thanh):
“Giặc Mỹ đã đền tội!”

Chuông tàu điện leng keng,
Ôi trái tim Hà Nội
Ta nghe hồn phơi phới
Chân dồn dập bước nhanh...

Ba lô cùng vũ khí,
Trĩu nặng trên đôi vai
Ta đi tìm diệt Mỹ
Đạp hết mọi chông gai
Xá chi bước đường dài...

Đêm nay vào trận tuyến,
Ta nghe lòng xao xuyến
Nghe tiếng gọi trả thù
Cho Hà Nội thủ đô.

Lưỡi lê trần sáng quắc
Lấp loáng ánh trăng rằm
Đạn đã đẩy lên nòng
Phút diệt thù đã điểm.

Ngòi nổ của thù căm
Đã bắt đầu bén lửa
Trong tiếng thét xung phong,
Xác quân thù nghiêng ngửa.

Hà Nội ơi! Hà Nội,
Ơi Đông Đô, Thăng Long
Chúng bay phải đền tội
Vui hoa nở trong lòng.

Đêm qua ngoài ấy vui không
Mà sao ta thấy trong lòng reo ca?
Tháng 12 năm 1967



Trước mặt ta mưa dăng,
Sau lưng trời loe nắng
Con thác dài tóc trắng
Xe ta lao băng băng...

Cái nắng đuổi cơn mưa,
Mảnh như sợi tơ vàng
Lọc qua không gian
Ùa vào buồng lái…

“Vừa mưa vừa nắng,
Ông Cắng đánh nhau...”
Xe ta đi giữa
Ta hát bài ca tuổi thơ...

Chon von trên đỉnh núi,
Vắt vẻo bên sườn non
Đoàn xe ta cuốn bụi
Như rồng vàng bay lên.

Đàn cò phía trời xa,
Chắc cũng vào tiền tuyến
Chở theo câu quan họ
Xanh biếc trời quê ta.
Mảnh trăng xanh cuối rừng,
Xởn xơ như cô gái
Rất duyên đôi mắt cười
Quay tròn theo tay lái...

*  *
  *
Trên đường ta ra trận,
Có nắng trắng mây vàng
Ôi! Phong lan! Rừng phong lan
Ai kết thành dàn
Trên đầu ta, bên thân cây….

Bàn tay nào nghệ sỹ?
Bàn chân nào qua đây?
Rủ phong làn và rừng cây,
Cùng ta đi đánh Mỹ?

Xe ta chở đầy hương phong lan !

Trên đường hành quân vào Nam
Tháng 7 năm 1967



Anh nhận thư em giữa pháo trường,
Lòng ơi sao bỗng thấy mến thương
Lá thư em gửi qua mây núi
Thấm đượm hoa rừng, thơm ngát hương.

Em nói: “Quê ta lúa được mùa,
Tấn tư một mẫu - chân ruộng chua
Em cùng hợp tác thôn ta ấy
Nghĩa vụ đã xong, thóc giao thừa.

Em nói:“Quê ta giặc đến nhiều,
Trút bom bắn phá xóm làng yêu
“Con ma”,”Dũng sĩ” cùng “Thần sấm”
Chúng đến bao nhiêu, rụng bấy nhiêu!

“Anh ạ! Quê ta tự bấy nay,
Sục sôi lửa hận, ngút trời mây
Căm thù quân giặc gây tang tóc
Vững vàng tay súng, chắc đường cầy”!

“Cây bưởi anh trồng trước lúc xa,
Ba mùa rồi đó đã đơm hoa
Cau non trước cửa, chim làm tổ
Sáng sáng lừng vang tiếng hót ca”...
“Anh ở tiền tuyến, em hậu phương
Hai đứa hai nơi - một chiến trường
Ở nhà, em gắng “Ba đảm nhiệm”
Ngoài xa, anh nhé hãy ngoan cường!”

*  *
  *
Tôi nhận thư em giữa pháo trường,
Lòng ơi sao bỗng thấy quá mến thương
Lá thư em viết đương còn vắn
Mà nghe rộn rã tiếng quê hương...
Tháng 6 năm 1966



Sao mai khuất đỉnh non ngàn,
Mặt trời thức giấc, sương tan, nắng hồng.
Ơi anh bộ đội phòng không,
Thấy anh đứng đó mà lòng em thương.

Đêm qua thức suốt canh trường,
Đẩy xe, kéo pháo vượt đường bom rơi.
Trắng đêm cõng pháo trên đồi,
Sớm ra đã thấy anh ngồi trực ban.

Mặt trời đổ lửa nóng ran,
Mắt anh vẫn sáng, hiên ngang đợi thù.

Em về lấy trộm thầy u,
Đem chiếc nón cưới mới mua để dành.
Băng đồi, đưa đến tặng anh,
Đội đầu cho đỡ nắng hanh trưa hè…
Bạn Tọ Thượng - Phù Yên Nghĩa Lộ
Tháng 6 năm 1966



Kỷ niệm trận đầu đánh thắng trên đất Phù Yên,
Nghĩa Lộ, hạ một máy bay F4. Bắt sống giặc lái Mỹ.
Dân bản rất mừng. kéo đến thăm hỏi, tặng quà (Ngày 18.11.1965)

Phù Yên có núi tiếp mây trời,
Có suối Làng trong chẳng lúc vơi.
Có đồng lúa chín vàng trong nắng,
Hương say ngây ngất ngát tình đời.

Có những mẹ già bảy tám mươi,
Nhà mẹ ở xa tận cuối trời,
Thương con, chẳng quản bao đèo suối,
Chân vượt núi cao, mẹ đến chơi.

Vài con cá nhỏ, bó củi cành,
Dăm mớ rau rừng, nải chuối xanh,
Thều thào mẹ nói qua hơi thở:,
-“Nhận lấy con ơi! Chút lòng thành”.

Có cô gái Thái răng đen nhức,
Lội suối băng rừng bắt phi công,
Ngược dốc đèo Ban căng lồng ngực,
Bàn chân đuổi giặc chạy băng đồng.

Có những em nhỏ thật đáng yêu,
Nghễu nghện lưng trâu những buổi chiều,
Đem lá nguỵ trang cho bộ đội,
Một bó con thôi chẳng có nhiều.

                   *   *
                     *
Nhìn mẹ, nhìn em, tôi phấn khởi,
Như mưa nhuần, nước tưới đồng khô,
Lòng vui như hội mở cờ,
Tình quân dân ấy bao giờ phôi pha.?



Tinh mơ quang gánh lên đồi,
Đôi vai nặng trĩu hai nồi cơm to.
Chân đạp dốc, miệng phì phò,
Run run đầu gối, lò dò đường trơn.

-“Tổ cha cái lũ Giôn-Sơn!”
(Trượt chân mình chửi bõ hờn. Nào hay)
Lại nghe ai hát đâu đây:
(Đúng là cái tổ đường dây cô Tài).

-“Trên đời em chẳng yêu ai
Yêu anh bộ đội gành hai cái nồi”

Ba cô khúc khích trêu cười,
Làm mình ngượng chín cả người. Lạ chưa..
Nhưng mình thì cũng chẳng vừa,
Đặt quang, chống gánh mới “thưa” đôi lời:

-“Cô nào thật bụng yêu tôi
Lại đây gánh giúp một thôi mới là...
Này đây, chiếc nhẫn đuya-ra
Vừa là trả ngãi, vừa là làm tin!”

Các cô liếc mắt đưa nhìn,
Cả ba nhất loạt tiến lên phía mình.
Mình thì trống ngực thình thình,
Vớ vội quang gánh chạy nhah lên đồi.

Đằng sau rả rích tiếng cười,
Làm mình đỏ chín cả người, cả...tai.

Cầu Tà Vài - đường số 6 - tháng 5 năm 1966



“Đang khi lửa tắt cơm sôi
Lợn kêu, con khóc, chồng đòi tòm tem”
(Ca dao cổ)

Đang khi lửa tắt, cơm sôi,
Lợn ra, gà xổng, thủng nồi. Cực chưa?

Nồi này vết đạn hôm xưa,
Giôn-Sơn nó bắn khi vừa cạn cơm.
Hôm nay lại lũ Ních-Sơn,
Kéo nhau đến cắn. Nồi cơm thủng rồi.

-“Bớ anh em ở trên đồi,
Bắt nhanh, bắn trúng. Đền nồi giả tao!”

Đồi cao tiếng pháo thét gào,
“Bắt” chiếc “bổ nhào”,tới tấp phụt lên.
Chỉ mới loạt đạn đầu tiên,
Một thằng “Thần Sấm” khói đen đầy trời...

Nuôi tôi thích chí cả cười,
Xí phần nhôm Mỹ để hàn nồi, hàn vung!

Trận địa bản Cù Nghĩa Lộ tháng 3 năm 1966



Gà cục tác lá chanh,
Lợn ủn ỉn đòi hành,
Chó khóc ngồi khóc đứng,
Đòi mua húng, mua riềng…

Anh nuôi bận rộn liên miên,
Về những gia giảm hành riêng lá chanh.
-“Thôi thì tớ cũng phải đành
Bữa nay mua hành, mai mốt riềng,mơ...

Còn đây mấy ả gà tơ
Lá chanh xin đợi bao giờ khao quân:
Máy bay một chiếc rơi gần”.

Trận địa Bản Tọ.Tháng 3 năm 1966



Chiều qua đang lúc nấu cơm,
Thì bầy chó chết Giôn-Sơn mò vào.
Nuôi tôi chẳng biết làm sao,
Vì lính ta gào bắt tắt bếp ngay(*)

Bây giờ biết tính sao đây?
Bỏ cơm đi bắn máy bay hay là...

Vừa may cô Nụ, cô Hoa,
Chạy vào bếp, đuổi mình ra pháo trường:
-“Có em cơm nước tinh tươm
Đi đi anh, ngoài pháo trường cần anh!”

Thế là mình vội lao nhanh,
Mặc bom đạn nổ đùng đoàng bên tai.
Đến nơi vuốt bụng thở dài,
Vì hai thằng “giặc nhà trời” còn đâu?

Pháo ta bắn rụng loạt đầu...

Trận địa Đội 6 Nông trường
Tháng 2 năm 1966



Ba lô cơm nắm nặng vai,
Nhấc lên, đặt xuống hăm hai cân tròn.

Trèo lên chót vót Trường Sơn,
Thấy trời ở dưới, mây vờn bên chân.
Ngỡ mình có phép “đằng vân”,
Đi mây, về gió như thần tiên bay.

Bên lưng sẵn chiếc điếu cầy,
Giải lao dăm điếu cho say sưa lòng.
Thuốc lào vừa mới rít xong,
Tiên sa đã thấy mấy vòng vây quanh.

Những nàng áo đỏ, áo xanh,
Cô nào cũng đẹp, cũng xinh, cũng giòn.
Tóc thề, má phấn, môi son,
Mắt xanh biêng biếc, trông mòn con ngươi.

Chào rằng:“Chàng mới lên chơi
Xin mời quá bộ vào nơi sân rồng”.

Oanh vàng thỏ thẻ hư không,
Xiêm y bảng lảng, lâng lâng lòng người.
Rộn ràng tiếng nói, câu cười,
Ríu ran sênh nhạc, khiến người như say.
Mơ màng, tay nắm cổ tay,
Hoá ra túm phải điếu cầy kề bên.
Ngỡ là lên núi gặp tiên,
Té ra say thuốc tít trên đỉnh đèo.

*    *
   *
Nhác trông chiếc lá đưa vèo,
Ba lô xốc vội, lại trèo Trường Sơn.
Nhanh chân tiếp nước, đưa cơm,
Kíp lên cho lính kẻo cơn đói chờ.

Anh nuôi tôi viết bài thơ,
Gửi kèm theo cả giấc mơ say này.
Gửi luôn cả chiếc điếu cầy,
Tặng cho lính chốt để... say sưa lòng.

Trận địa phục kích Pa Háng, Tháng 6 - 1967



Anh nuôi giữa chợ tần ngần,
Cầm dăm đồng bạc, phân vân, mua gì?

Chiều đông, chợ vắng người đi,
Lèo tèo mấy rổ khoai bi, rau rầu.
Chềnh ềnh một sảo lòng trâu,
Đen ngòm, nhặng bậu, ruồi bâu... phát phiền.

Nuôi tôi suy nghĩ liên miên,
Băn khoăn với mấy đống tiền trong tay...

Xịch đâu một tốp máy bay,
Ào ào bom giội xuống ngay chân cầu.
Lòng sông, nước dựng, đục ngầu,
Chập chờn khói quyện, nhịp cầu xô ngang.

Không gian vụn vỡ tan hoang,
Chợ quê tan vội, quán hàng vắng teo.
Bâng khuâng giữa cảnh chợ chiều,
Nuôi tôi bèn tính bài liều... xuống sông.

(Chân đi lòng nhủ với lòng
May ra vớ bữa cá không phen này)
May sao may khéo là may,
Bom Mỹ lạc, cá nổi đầy mặt sông.

Chép, mè, rô, diếc...bềnh bồng,
Anh nuôi thỏa lòng nhặt, vớt, đâm, xiên

Qua chợ, túi hãy còn tiền…

Ngòi Thia Nghĩa lộ tháng 6 năm 1966



(Tặng Chan-xơ-May)


Gió đuổi nhau trên cành,
Mặt trời chìm đáy suối
In song nước long lanh
Hình tôi lồng bóng anh
Ngả dài theo vách núi...

Anh người Lào, tôi Việt,
Gặp nhau tại quân y
Tiếng nhau nào có biết
Chỉ nói câu:“Xamakhi”!

Tôi đưa tay anh bắt,
Cảm thông khẽ gật đầu
Tay trong tay xiết chặt,
Mắt đã nói nghìn câu…

Hôm nào trên giường bệnh,
Miên man trong cơn mê
Hôm nay đã tập tễnh
Nương nạng gỗ đi, về...
*    *
   *
Anh bộ đội Pa - thét
Người con của dân Lào
Mắt ngời tươi ánh thép
Sáng hơn cả vì sao

Ơi anh bộ đội Lào,
Ơi người con tuyệt đẹp
Tôi bên anh thân thiết
Lắng nghe dòng máu Việt
Đang hoà chảy trong anh
Như nhựa mạng lên cành
Mà hôm xưa tôi tiếp.

Ơi anh người chiến sỹ,
Của đất nước Triệu voi
Của đại ngàn hùng vĩ
Luỹ thép sáng ngời ngời
Ta đã thành đồng chí
Tự thuở còn trong nôi.

Hỡi anh người đồng chí,
Tiếng nhau dù chẳng biết
Chỉ câu Xa - ma - khi
Gần nhau là thân thiết.

Vì ta là Lào Việt
Vì ta là anh em
Vì ta là đồng chí
Vì ta là chiến sỹ
Cùng thù chung: Giặc Mỹ

Ta bên nhau chẳng rời,
Như Trường Sơn tri kỷ.
Nắm tay nhau ta ca:
“Việt - Lào hai nước chúng ta
Tình sâu như nước Hồng Hà Cửu Long”

Quân y viên 6 Sơn La - Tây Bắc
Kỷ niệm ngày thành lập QĐND Lào tháng 10 - 1968



                     THƯ TIỀN TUYẾN

Anh gửi lá thư về trước
Dăm ngày quà sẽ đến nơi
Nhớ em chuốt mài chiến lược
Bằng nhôm tàu bay Mỹ rơi.

Anh sẽ giũa con ngựa nhỏ
Hay cắt con chim hòa bình
Hay gò đôi thìa be bé
Hay làm đôi chuông xinh xinh.

Con nhỏ còn đang bế ngửa
Em rung chuông cho con nghe
Quen tiếng máy bay Mỹ nổ
Quen chuông tan lớp đi về.


Con ngựa dành khi biết lật
Mân mê con vất trên đường
Chóng lớn đứng trên mặt đất
Theo cha, con hãy lên đường.

Biết ngồi, đôi chim con nghịch
Con ơi từng phút từng giây
Cha chống bom thù đạn địch
Giữ trời mai sau con bay.

Với đôi thìa nhôm be bé
Hàng ngày bón cơm cho con
Con ăn, đôi môi mẹ hé
Xa vời, gió gửi chiếc hôn...





Xuân về, đào đã đơm hoa,
Nhụy non sương đọng, đêm qua lạnh nhiều.

Xuân hồng biết mấy thương yêu,
Mừng xuân, ta mở trang Kiều bói xuân.
Lòng thành khấn vái quỷ thần,
Mở ra đoạn tả Thúy Vân, Thúy Kiều.

Nghĩ mình má nhọ trôn niêu,
Dám đâu sánh với Thúy Kiều, Thúy Vân.

Gấp trang sách, dạ tần ngần,
Lại xin một quẻ Châu - Trần nhân duyên.
“Lạy Từ Hải, vãi Giáp Duyên,
Lạy chàng Kim Trọng, lạy tiên Thúy Kiều”.

Lầm rầm to nhỏ đôi điều,
Tay lần lại mở trang Kiều xem qua.

Đoạn này lại chuyện Vương Gia,
“Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân
Mai cốt cách tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”.

Gấp trang sách, khẽ mỉm cười,
Trách mình sao khéo là người đa đoan.
Trận địa bản Xồm Lồm
Tháng 2 năm 1996



Bính Ngọ ơi em nghe chăng náo nức,
Cả hai miền rạo rực đón chào xuân
Em có nghe trái tim hồng trong ngực
Muốn reo ca, bay nhảy đã bao lần.

Thêm một nhà máy mới đang xây gấp,
Cốt móng theo người, hối hả lên khuôn
Và nơi kia, hố bom thù ta vừa lấp
Bước trẻ thơ vui rộn rã tới trường.

Em nghe chăng đường vui thiên lý,
Bước chân đồng của những người chiến sỹ
Hành quân xa không bao giờ biết nghỉ
Tìm quân thù phanh xác chúng ngày đêm.

Em có nghe mùa xuân Ất Tỵ,
Chiến công reo rộn rã cả hai miền
Đây miền Bắc trên tám trăm giặc Mỹ
Đã tan tành phơi xác khắp đó đây.

Kìa miền Nam đang thắng giặc ngày ngày,
Đà Nẵng - Chu Lai sân bay bốc lửa
Và còn biết bao, biết bao nhiêu nữa
Chiến công đầu gọi tiếp chiến công sau...
Tháng 1 năm 1966
Trận địa Kho gạo



Xuân về trên rẻo cao,
Đông tàn ngoài đồng nội
Gió xuân vẫy tay chào
Ơi long sao nôn nao...

Ta chào xuân Bính Ngọ,
Bằng loạt đạn đầu tiên
Bắn vào bầy cú vọ
Thề không cho chúng nó
Được ăn ngon ngủ yên.

Ta tiễn năm Ất Tỵ,
Bằng tám trăm giặc Mỹ
Phơi xác khắp đó đây
Nơi đỉnh núi ngàn cây
Ngoài khơi xa, đồng đội.

Ta chào xuân Bính Ngọ,
Bằng Đà Nẵng, Chu Lai
Bằng Plây Me, Dầu Tiếng
Ơi ngày mai, ngày mai
Lũ bay thua liểng xiểng!



Ta chào xuân Bính Ngọ,
Với ngói mới màu tươi
San sát dưới vòm trời
Như rừng đào trong gió
Nhún nhẩy hoa mỉm cười.

Ta chào xuân Bính Ngọ,
Với bóng cờ rực đỏ
Vàng sao vờn trong gió
Bay lộng giữa trời Nam
Nơi quê hương ta đó.

Ta gửi xuân Bính Ngọ,
Cả tình yêu, niềm tin
Và gửi vào trong đó
Cả chiến thắng hai miền
Thêu trên cờ thắm đỏ…

Nghĩa Lộ ngày đầu xuân
Sau trận đánh máy bay trinh sát F111
Tháng 1 - 1966


QUA CẦU GIÓ BAY

(Trích trường ca “Khát vọng”)


Biết nhau từ thuở “một hai”(*)
Đã từng ăn sắn, ăn khoai, ngủ rừng.
Ký ninh hoà nước uống chung,
Thuốc lào một điếu, rít chung lán nghèo.

Bao đêm “Đầu sung trăng treo”(**)
Đầu trần, chân đất, băng đèo đuổi Tây.
Vui ngày diệt bốt, phá vây,
Răng cười trắng xoá! Tóc bay xanh rờn.

Đồng ca hoà một tiếng đàn,
Bập bùng bếp lửa nhà sàn đêm đêm.
Thư nhà chung đọc dưới đèn,
Mừng rơi nước mắt, đan chen nụ cười.

Quê ta được giải phóng rồi,
Vợ ta có ruộng, con thời có cơm.
Mẹ cha thoát khỏi tủi hờn,
Áo quần đã ấm, nồi cơm đã đầy.

*    *
   *
Niềm vui chưa kịp cầm tay,
Giặc kia tráo trở xéo giầy miền Nam.
Anh xuống biển! Tôi lên ngàn,
Lại lao vào cuộc gian nan trường kỳ.

Trong tim đã khắc lời thề,
“Chưa hết giặc Mỹ, chưa về quê hương”.
“Mặt đường khát vọng”(***) yêu thương,
Cháy trong nỗi nhớ tiền phương “Lửa đèn”(****)

Lời ca át tiếng bom rền,
Trường Sơn thức với hai miền Đông – Tây.
Gồng lưng chịu trận pháo bầy,
Đội bom tạo độ thâu ngày, thâu đêm.

Ta đi chân cứng đá mềm,
Ban Mê - Dầu Tiếng, viết nên sử vàng.
Sài Gòn Mỹ Nguỵ tan hoang,
Rợp trời cờ đỏ, sao vàng tung bay.

Bây giờ gặp lại nhau đây,
Ôm nhau xiết chặt vòng tay nghẹn ngào.
Ông - tôi - tớ - cậu - mày – tao,
Đấm nhau thùm thụp, lệ trào tràn mi.

*    *
   *
Cười vang, nào biết nói gì,
Cùng nhìn mái tóc sương ghi trắng đầu.
Lặng thầm, mắt nói nghìn câu,
Bao nhiêu kỷ niệm theo nhau chảy về.

Ta là con của trăm quê,
Của ngàn bà mẹ sớm khuya tảo tần.
Ra đi từ ấy gian truân,
Tuổi xanh gửi lại, ngày xuân mỏi mòn.

Còn trời còn nước còn non,
Còn con cháu đó ta còn mừng nhau.
Nay dù tóc đã trắng đầu.
Vẫn vui như thuở qua cầu gió bay...



            Thị trấn Quế - Hà Nam,
         sau 40 năm gặp lại 5- 2004
(Thân tặng các cựu chiến binh D14-F316 Quân khu Tây Bắc)

Chiến tranh ngày ấy quen nhau,
Nghĩa tình đồng đội dài lâu vững bên.
Ngọt bùi, căy đắng không quên,
Kết thành ngọc sáng, ánh lên rạng ngời.

Dòng đời, nước chảy, mây trôi,
                  Nhịp thời gian cứ luân hồi lướt nhanh.
                          Chúng mình thuở ấy tóc xanh,
Giờ đây gặp lại, tóc thành muối tiêu.

Trải bao nắng sớm, mưa chiều,
Tình đời vẫn thắm, tình yêu vẫn nồng.
Tự hào là lính phòng không,
Tiểu đoàn Mười Bốn anh hùng năm nao.

Nhớ xưa chung một chiến hào,
Đạn bom chẳng sợ, gian lao chẳng nề.
Trăm người, trăm tính, trăm quê,
Cùng chung lý tưởng, tụ về một nơi:

Miền Tây canh giữ cổng trời,
Tà Vài, Suối Sập, Mường Khơi, Bản Cù.
Thảo nguyên Châu Mộc sương mù,
Xồm Lồm, cây số Sáu Tư, Trường Đoàn.
Tạ Khoa, Tin Tốc, Đèo Ban,
Chiềng Đi, Bạn Tọ, Vạn An, Vườn Đào...
Mường Buồm, Phu Cút (đất Lào),
Phu Viêng, Nậm Bạc, gió gào, lửa nung.

Hội quân ở đất Hang Trùng,
(Vắt nhiều như trấu, như sung, rợn người).
Tưởng đâu đã được nghỉ ngơi,
Lệnh trên tức tốc vào nơi chiến trường...

Lại gối đất, lại giầm sương,
Lại đi trên những nẻo đường gian lao.
Ngày nắng đốt, đêm mưa rào,
Rét cưa cắt ruột, gió bào nứt da.

Cùng chung một cảnh xa nhà,
Nhớ quê, nhớ mẹ, thương cha... nhớ mình.
Cùng lao vào cuộc chiến tranh,
Hy sinh tất cả để giành tự do.

Gác bên mọi nỗi âu lo,
Cho ngày chiến thắng và cho hoà bình.
Từ trong khói lửa chiến tranh,
Mối tình đồng đội kết thành lẵng hoa.

Chiến tranh nay đã lùi xa,
Hẹn ngày gặp lại, có ta có mình.
Xa nhau, lòng nhớ đinh ninh,
Ba mươi năm lẻ, chúng mình gặp nhau.

Nước thời gian gội trắng đầu,
Nếp nhăn vầng trán, hằn sâu phong trần.
Nghẹn ngào, nước mắt rân rân,
Tay cầm tay, chuyện xa gần, nhớ quên.

Điểm người, nhớ mặt, nhắc tên,
Dốc bầu tâm sự, nỗi niềm đầy vơi.
Xót thương đồng đội mất rồi,
Cảm thông, chia sẻ với người không may.

Xoè tay, bấm đốt ngón tay,
Mừng anh thành đạt, đủ đầy bát ăn.
Thương anh hoạn nạn khó khăn,
Vợ con, bệnh tật, nợ nần yếu đau.

Gặp đây, chẳng kể nghèo, giàu,
Mừng ta còn sống qua cầu chiến tranh.
Chúc tôi, chúc chị, chúc anh,
Chúc đời mãi mãi tươi xanh tình đời.

Còn non, còn nước, còn người,
Giữ gìn kỷ niệm một thời bên nhau.
Không quên chiến thắng Mộc Châu,
Mười Bốn tháng Sáu trận đầu lừng danh.

Đâu cần bia đá sử xanh,
Chỉ mong mãi mãi chúng mình nhớ nhau.
Mai dù bạc trắng mái đầu,
Vẫn vui như thuở “qua cầu... gió bay”.
Hà Nội, ngày 14 tháng 6 năm 2003

Binh nhì: Ngô Như Sâm
 Xóm Đình, thôn Đình Đại Mỗ, Từ Liêm Hà Nội. ĐT: 043.8390543
043.993.1845



Qua chơi quê bạn: Phù Đê,
Theo dòng sông Đáy, xuôi về Phù Vân.
Thơm nồng hương, ngọn gió xuân,
Triền đê xanh, cỏ níu chân mời chào.

Long lanh, giọt nắng xôn xao,
Non tơ bờ bãi, rì rào lúa ngô.
Mặt sông thấp thoáng con đò,
Xuôi chèo, mát mái gió no cành buồm.

Đường quê, bóng ngả chiều hôm,
Lòng vui, chân nhẹ bước dồn dặm xa...


(Thân tặng anh Tạ Duy A, người đồng đội cũ)

Đến thăm Tượng Lĩnh chiều nay,
Ghé chơi nhà bạn, thấy đầy sân ngô.
Chất cao mấy đống vàng phô,
Rơm phơi đầy ngõ, lúa ngô khắp nhà.

*  *
  *
Anh bạn tôi: Tạ Duy A,
Đã từng chinh chiến xông pha một thời.
Cùng tôi chia ngọt xẻ bùi,
Trong cơn lửa đạn, bom rơi bao lần.

Ôm nhau đứng lặng giữa sân,
Vợ con, hàng xóm quây quần hỏi han.
Lệ trào, nhớ buổi gian nan:,
Ngòi Thia, Suối Xập, Đèo Ban, Bản Cù.

Thảo nguyên, Châu Mộc sương mù,
Chiến trường Nậm Bạc, Mường U đất Lào.
Bao phen nếm trải gian lao,
Đói cơm, nhạt muối, gió gào, lửa thiêu.

Rồi ra, vui biết bao nhiêu,
Liên hoan chiến thắng, hạ nhiều máy bay.
“Con ma” “Thần Sấm”, lăn quay,
Hò reo, dân bản cầm tay chúc mừng.

Nào cho cá suối, thịt rừng,
Ngô bung, sắn nướng, bánh chưng, bánh dày.
Lợn gà, gạo thịt chất đầy,
Trống chiêng,múa hát tối ngày sáng đêm.

Nhớ khi kéo pháo chuyển lên,
Kịp đưa vào trận sấm rền, chớp rung.
Nhớ khi bão đạn rùng rùng,
Tôi, anh cùng núp ở chung một hầm.

Nhớ khi nuốt lệ, khóc thầm,
Chia tay đồng đội về âm phủ chầu...
Nhắc hoài chuyện cũ. Lòng đau,
Kẻ còn, người mất, xa nhau bao ngày.

Bây giờ ta lại gặp đây,
Nhìn nhau bịn rịn, cầm tay nghẹn ngào.
Nhớ xưa, chung một chiến hào,
Anh em, cậu tớ, mày tao om xòm.

Nay đã có vợ, có con,
Lên ông lên lão. Tóc còn đâu xanh.
Đi qua suốt cuộc chiến tranh,
May sao còn sống. Tôi anh đã già.
*  *
  *
Chào người bạn: Tạ Duy A,
Mừng anh, xin gửi khúc ca thay lời.
Tình anh còn mãi trong tôi,
Mối tình đồng đội một thời đạn bom.

Còn trời, còn nước, còn non,
Còn con cháu đó, ta còn mừng nhau.
Tình ta trọn nghĩa trước sau,
Nhớ ngày sống chết, có nhau thuở nào.

Chúc anh sức khỏe dồi dào,
Gia đình hạnh phúc, mai đào tốt tươi.
Quanh năm đầy ắp niềm vui,
Bốn mùa rộn rã tiếng cười, lời ca.

Chào người bạn Tạ Duy A,
Hẹn ngày gặp lại, có ta, có mình...



                              














                  NHỚ

                   Cây tàn, lá rụng đầy sân,
       Mưa rơi trắng đất gió phần phật bay…

Bâng khuâng chợt nhớ những ngày,
Hàm run, môi tím, chân tay cứng quèo.
Hành quân lội suối, băng đèo,
Không ngừng chân bước theo đội hình.

Ba lô súng đạn bên mình,
Ướt người đành chiụ. Súng dành chỗ khô.
Đói lòng ăn sắn ăn ngô,
Nước khe uống đại, xô bồ lại đi.
Vậy mà chẳng ốm đau gì,
Nằm đâu, ngủ đấy, mỗi khi chân dừng.
Gặp dân tay bắt mặt mừng,
Miệng cười nước mắt rưng rưng muốn trào.
Khăn đưa, nón vẫy, tay trao,
Tình riêng e ấp, gửi vào nhớ thương.
Ngoài xa, súng vọng chiến trường,
Giục nhanh chân bước, tiền phương đang chờ.

Qua rồi mấy chục mùa mưa,
Mấy mùa lá rụng, mấy mùa trăng lên.
Bạn xưa in dấu trong tim,
Kẻ còn, người mất, nhớ tên từng người.
Thoát đà tuổi đã sáu mươi,
Nôn nao nỗi nhớ….
                    Ngoài trời ….
                                             trắng mưa….
               Hoài niệm

(Cảm tác đọc tập thơ:“Dấu ấn thời gian”
                     của  Nguyễn Công Canh- người đồng ngũ năm xưa )

Cám ơn”Dấu ấn thời gian”,
Cho ta sống lại những trang hào hùng.
Những ngày nắng núi mưa rừng,
Những đêm sương muối, bập bùng lửa reo.

Nhớ khi lên đến đỉnh đèo,
Giơ tay hái mảnh trăng treo trên đầu.
Nhớ khi đói muối, thiếu rau,
Cơm ăn toàn những củ nâu, củ mài.

Nhớ thời mười tám đôi mươi,
Chân từng đặt khắp đất trời miền Tây.
Vượt bao dốc đứng, rừng dầy,
Đẩy xe, kéo pháo những ngày chiến tranh.

 Lòng say nhịp bước quân hành,
Ra đi, chẳng tiếc đời xanh một thời.
Nhìn vầng trăng sáng bên trời,
Ngổn ngang  nỗi nhớ trông vời quê hương.

Nhớ cha mẹ, nhớ người thương,
Nhớ bè bạn, nhớ mái trường tuổi thơ.
Chiến tranh đâu phải mộng mơ,
Sống-còn, chỉ tính bằng giờ bằng giây.

Chiến tranh - cái chết cầm tay,
Nghĩa tình đồng đội sánh tầy núi cao.

Nhớ sao trên đất bạn Lào,
Mưa kêu suối thét gió gào xé da.
Nhớ người bạn đã đi xa,
Hòa bình sao chẳng cùng ta trở về ?

Dựng xây mái ấm làng quê,
Cùng ai giữ vẹn câu thề ngày đi ?
Thương. Thương lắm. Biết nói gì?
Mắt cay…lòng nghẹn, hoen mi…lệ tràn.

Cám ơn “Dấu ấn thời gian”,
Cho ta sống lại những trang hào hùng.
Tập thơ giờ đã đọc xong,
Trang thơ khép lại mà lòng bâng khuâng…

















               ThƯ gi ĐỒng ĐỘi cŨ
Anh Lại Văn Mùi

                                           Hà Nội ngày 1 tháng 7 năm 2011

Xa nhau mấy chục năm rồi,
Nhưng tôi vãn nhớ ông người Phù Vân.
Nước da “trắng” tựa ngó cần,
Hàm răng “đen xỉn”, đôi chân hơi “dài”

Ông vào loại khá đẹp trai,
Đứng hàng thứ nhất, thứ hai tiểu đoàn.
Những ngày nắng lửa trực ban,
Trên mình lủng củng đeo toàn …bi đông.

Ống nhòm với túi phòng không,
La bàn, súng lục, quanh hông những là…
Nguỵ trang trên mũ loà xoà,
Cổ quàng một tấm dù hoa …vải màn.

Nắng nung nóng bỏng như rang,
Mồ hôi xối xả chảy tràn như mưa.
Trên đồi trực chiến giữa trưa
Mắt thần chăm chú say sưa canh trời.

              Ông tên là Lại Văm Mùi,
Đất quê Kim Bảng chính người Phù Vân.
Tình thơ thảo một đôi vần,
Nôm na gửi tặng bạn thân một thời.

Cái thời mười chín đôi mươi
Ta cùng chiến đấu giữ trời miền Tây.
Gửi lòng qua cánh thư này,
Chúc nhau mạnh khoẻ, mong ngày gặp nhau .

          Bạn chiến đấu cùng một chiến hào
                      trong những ngày đánh Mỹ trên chiến  trường
 Tây Bắc năm xưa.
                                             
                                             NGÔ NHƯ SÂM


























MỤC LỤC


LÊN ĐƯỜNG                                                                                  3
LÊN TÂY BẮC                                                                                 4
PHIÊN GÁC ĐẦU TIÊN TRÊN THẢO NGUYÊN CHÂU MỘC 6
BÊN MÂM PHÁO MÙA XUÂN                                                    7
TÂM SỰ                                                                                           8
HẸN NGÀY GẶP LẠI                                                                    9
BÀI CA PHÁO                                                                              11
TRĂNG VỚI ANH LÍNH CÔNG BINH                                     12
ĐƯỜNG VUI NHỊP BƯỚC                                                          13
CHIẾC GIƯỜNG TRE                                                                   15
TÂM SỰ                                                                                         17
BÀI CA TRÊN ĐƯỜNG HÀNH QUÂN                                     18
ĐÊM HÀNH QUÂN                                                                    21
TIÈN PHƯƠNG, ĐIỂM HẸN                                                       22
TIẾNG GỌI HÀ NỘI                                                                     24
KHÚC CA NGƯỜI LÁI XE TRƯỜNG SƠN                               27
THƯ QUÊ HƯƠNG                                                                      29
CHIẾC NÓN CƯỚI                                                                      31
PHÙ YÊN                                                                                       32
NGƯỢNG CHÍN CẢ NGƯỜI                                                      34
XÍ PHẦN                                                                                        36
BAO GIỜ KHAO QUÂN                                                              37
VUỐT BỤNG THỞ DÀI                                                               38
GIẤC MƠ GẶP TIÊN                                                                    38
QUA CHỢ CÒN TIỀN                                                                 41
ĐỒNG CHÍ                                                                                    43
THƯ TIỀN TUYẾN                                                                       46
BÓI KIỀU NGÀY XUÂN                                                              48
XUÂN MỚI CHIẾN THẮNG                                                      50
CHÀO XUÂN BÍNH NGỌ                                                          51
QUA CẦU GIÓ BAY                                                                     53
KỶ NIỆM TIỂU ĐOÀN                                                                 56
QUÊ BẠN                                                                                      59
THĂM BẠN                                                                                            60
NHỚ                                                                                               63
 HOÀI NIỆM                                                                                 64
THƯ GỬI  NGƯỜI ĐỒNG ĐỘI CŨ                                            66           






(*) Vì sợ khói bếp làm lộ mục tiêu.
(*) Ý bài thơ Nhớ của Hồng Nguyên.
(**) Tên bài thơ của Chính Hữu.
(***) Tên một bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm.
(****) Tên một bài thơ của Phạm Tiến Duật.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

301 Câu đố cho trẻ nhỏ