Khang Hi giáo tử kinh (Hoàng đé Khang Hi dạy con)



  康熙教子經



                       Hoàng đế
                                                    
      KHANG HI DẠY CON


           Ngô Như Sâm –Đoàn Như Trác


               SƯU TẦM, SOẠN  DỊCH
                       VÀ GIỚI THIỆU




          Hà Nội  2013






                                      
                                      Lời giới thiệu


            Khang Hy (1654 - 1772), tức Ái Tân Giác La Huyền Diệp, là một vị vua văn võ song toàn của nhà nước Trung Hoa cổ.  Ông là con thứ ba của Thanh Thế Tổ Hoàng đế nhà Thanh. Tám tuổi đã lên ngôi vua. Niên hiệu Khang Hy. Trị vì đất nước 61 năm từ 1661 đến 1722. Tài kinh bang
tế thế của ông thể hiện ở các mặt chủ yếu sau:
            Về đối nội:
            Sau khi trực tiếp nắm quyền hành,
vào năm thứ tám (năm 1669) Khang Hy lập kỳ kế bắt Ngao Bái- kẻ đứng đầu Hoàng tộc,
là kẻ độc đoán, chuyên quyền, coi thường nhà vua lúc đó còn ít tuổi - Ngao Bái
bị bắt, tống vào đại lao, cách tuột mọi chức tước, sau đó bị phát lác đi nơi
xa.
            Tiếp đó là việc bình định bọn “Tam
phiên” Ngô Tam Quế và đồng đảng của hắn. Cuộc bình định hoàn toàn thắng lợi vào
năm thứ 20. Sau đó Khang Hy tổ chức tấn công Đài Loan, diệt chính quyền họ Trịnh,
xây đồn đắp luỹ, chuẩn bị chống trả sự xâm lược của thực dân phương Tây vào Đài
Loan.
            Trong thời gian trị vì, Khang Hy chú
trọng sản xuất nông nghiệp, khích lệ việc khai hoang, khẩn hoá, ra lệnh nghiêm
cấm việc chiếm đoạt ruộng đất của bọn giàu có cường hào ở các địa phương. Tiến
hành công việc trị thuỷ sông Hoàng Hà, tu sửa công trình Đại Vận Hà. Đo đạc lại
ruộng đất. Hoàn thành “Hoàn dư toàn đồ”. Mở khoa thi Bác học Hoằng Từ. Mở Minh
Sử Quán. Tổ chức biên tập “Toàn Đường thi”, bộ “Văn Vận phù”, “Khang Hy tự điển”,
đề xướng “Trình - Chu học lý” và cũng thi hành rất nhiều cải cách về văn tự để
có được một chế độ văn hoá độc quyền. Năm thứ 51, ban hành pháp lệnh về hộ khẩu,
thuế khoá, quản lý dân số v...v...
            Về đối ngoại :
              Năm
thứ 24, thành công trong việc đánh đuổi quân đội Nga Hoàng ra khỏi vùng Hắc
Long Giang, Nhã - Khắc-Tát. Năm 28 phái Sách Ngạch Đồ đi thương lượng với Sa
Hoàng, ký điều ước Trung-Nga Ni -Bố -Sở, xác lập toàn bộ phía Đông Trung - Nga.
            Ba lần Khang Hy thân chinh bình định
vùng Nội Mông  và Tây Tạng, củng cố sự thống
nhất các dân tộc trong một đất nước Trung Hoa rộng lớn.
              Ngoài
những công việc đối nội, đối ngoại như nói trên, mà nhà vua này đã làm được,
ông còn rất chú trọng đến việc chăm lo dạy bảo con cái mình nên người. Ông đã tự
tay soạn ra cuốn “Khang Hy giáo tử kinh”. Cuốn sách này như một cẩm nang quí
giá giúp các bậc làm cha làm mẹ học tập, nghiên cứu, coi đó như sách giáo khoa để
dạy dỗ cho con cái mình nên ngườ.
Chúng tôi sưu tầm, tuyển chọn, biên dịch lại cuốn sách
trên, ngõ hầu giúp ích được ít  nhiều vào
sự nghiệp giáo dục thanh thiếu niên học sinh Việt Nam trong hiện tại và tương
lai.      
  Xin  trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. Hy vọng đọc
nó, các bạn sẽ thấy có nhiều điều bổ ích và lý thú …


                                                                        Hà
Nôị tháng 7 năm 2013
    
Những người dịch









                             1.不學則已,      
學則必精.

           凡人讀書或學蓺,每自謂不能者,乃自誤其身也.“中庸”有云:“有弗學,學之弗能弗,措也.人一能之,己百之;人十能之,己千之果能比道矣,雖愚必明,雖柔必強”.實為學最有益之言也!
       
Phiên âm:
              1. Bất học tắc dĩ - học tắc tất tinh.

         Phàm nhân độc
thư hoặc học nghệ, mỗi tự vị bất năng giả, nãi tự ngộ kỳ thân dã. “Trung Dung”
hữu vân: “ Hữu phất học, học chi phất năng phất, thố dã. Nhân nhất năng chi, kỷ
bách chi; nhân thập năng chi. Kỷ thiên chi quả năng thử đạo hĩ, tuy ngu tất
minh, tuy nhu tất cường”. Thực vi học tối hữu ích chi ngôn dã !

                     Dịch nghĩa:
1. 
Không học tất dốt -
Học tất tinh thông.

       Có nhiều người,
dù là học chữ hay học nghề, đều cho rằng mình không học nổi. Như thế chính là
mình tự đánh mất bản thân mình. Sách “Trung Dung” từng viết: “Nếu không học thì
thôi, chứ đã học thì không được bỏ giữa chừng. Người khác học một lần là được,
còn mình học một trăm lần cũng biết. Người ta học mười lần thì ta cứ học một
nghìn lần, cũng biết. Nếu thực sự làm được như vậy, thì dù là người ngu ngốc đến
mấy, cũng có ngày trở nên thông minh. Bản tính yếu đuối cũng có thể qua rèn luyện
mà trở thành kiên cường”. Những quan điểm như trên rất có ích cho việc học tập
vậy.

黃金法則:
Phiên âm:

 Hoàng
kim pháp tắc:

在人生的整个過程中,旡論是自己學習研究,還是教育孩子,都必須集中精力,专心致志.博中取精,絕不能心猿意马,朝三暮四.
Phiên âm:
Taïi nhaân sinh
ñích chinh caù quaù trình trung, voâ luaän töï kyû hoïc taäp nghieân  cöùu, hoaøn thò giaùo duïc haøi töû, ñoâ taát
tu taäp trung tinh löïc, chuyeân taâm trí chí. Baùc trung thuû tinh, tuyeät baát
naêng taâm vieân yù maõ, chieâu tam moä töù.

Lời hay ý đẹp :


       Trong cả đời người, bản thân dù học
tập nghiên cứu, hay là dạy bảo con cái, đều phải tập trung tinh lực, chuyên
tâm, kiên trì. Trong cái nhiều, chọn ra cái tốt. Tuyệt đối không được qua loa,
đại khái, bữa đực bữa cái, bữa mốt bữa hai.

            2. 幼稚好學,           励志盛年.
         人在幼稚,精神專一通利,長成以后,則思慮敬逸外馳,是故應須早學,勿失机會,朕七八歲所讀之經書,至今五十年,猶不遺忘,至于二十以外所讀之經書,數月不溫,即至荒初矣.然人或有幼年遭逢坎坰失于早學,則于盛年尤當励志.蓋幼而學者,如日出之光,壯而學者如炳虫之光;雖學之迟者,亦猶賢乎始經不學者也!

Phiên âm:

            Ấu trĩ hiếu học,        Lệ chí thịnh niên.

        Nhân tại ấu trĩ, tinh thần chuyên nhất
thông lợi, trưởng thành dĩ hậu, tắc tư lự kinh dật ngoại khu, thị cố ứng tu tảo
học, vật thất cơ hội. Trẫm thất bát tuế sở độc chi kinh thư, chí kim ngũ thập
niên do bất di vong, chí vu nhị thập dĩ ngoại sở độc chi kinh thư sổ nguyệt bất
ôn, tức chí hoang sơ hĩ. Nhiên nhân hoặc hữu ấu niên tao phùng khảm quýnh thất
vu tảo học, tắc vu thịnh niên vưu đang lệ chí. Cái ấu nhi học giả, như nhật xuất
chi quang, tráng nhi học giả như bỉnh trùng chi quang; tuy học chi trì giả, diệc
do hiền hồ thủy kinh bất học giả dã !

Dịch
nghĩa
:

      Tuổi thơ ham học,      chí lớn thành người.

         Người ta, thời thơ ấu, mọi sự suy nghĩ
đều chưa hề vẩn đục, làm việc gì cũng khá chuyên tâm. Khi trưởng thành, sức tập
trung giảm sút, dễ bị phân tán. Vì thế khi còn nhỏ nên tranh thủ học hành, đừng
bỏ lỡ thời cơ học tập có hiệu quả cao nhất. Những sách vở mà ta học tập từ thời
bảy tám tuổi, đến nay đã qua năm chục năm mà vẫn còn nhớ như in. Còn những sách
vở đọc từ lúc hai mươi tuổi trở về sau này, cứ vài tháng mà không đem ra ôn lại
thì sẽ bị quên ngay. Giả sử có người thời ấu thơ gặp những chuyện lận đận không
may mà mất đi cơ hội học tập quí báu, thì ở tuổi than niên việc học càng phải nỗ
lực phấn đấu thêm nhiều hơn. Sự học tập bắt đầu từ thời niên thiếu giống như
tia nắng mặt trời chói lọi trong buổi bình minh. Sự học tập bắt đầu từ thời
thanh niên thì như ánh sáng lung linh của ngọn nến; ngay cả những người mãi đến
lúc tuổi cao mới bắt tay vào việc học thì so với người trước giờ không chịu học
hành, vẫn còn hơn rất nhiều.
 
黃金法則:

早期教育對兒童后來的發展和學習具有重要的作用.幼兒智力之花可以提前開放長期不衰也可能昙花一現,瞵间枯萎关鍵在于环境和教育.
Phiên âm:

        Taûo kyø giaùo duïc ñoái nhi ñoàng haäu lai ñích phaùt trieån hoøa hoïc
taäp cuï höõu troïng yeáu ñích taùc duïng. AÁu nhi trí löïc chi hoa khaû dó ñeà
tieàn khai phoùng tröôøng kyø baát suy daõ khaû naêng ñaøm hoa nhaát hieän,
laân gian khoâ nuy quan kieän taïi vu hoaøn caûnh hoøa giaùo duïc.

  Lời hay ý đẹp :

Uốn nắn trẻ nhỏ
ngay từ ban đầu có tác dụng lớn đối với sự phát triển và học tập của chúng sau
này. Mầm non trí thức non trẻ có thể bùng nở trước kỳ, tươi tốt lâu dài; tất cả
đều phụ tuộc vào môi trường và sự giáo dục.

                  3.一日之力,            一日之效.

為學之功不在日用之外,檢身則謹言行,居家則事來敬長,窮理則讀書講義.至近至易,即今便可用力;至急至切,即今便當用.用一日之力,便有一日之效.至有所疑,尋人問難,則長進通達自不可量.若即今金用力,蹉過少壯時光,即使他日得堅賢而師之,亦末必能有益也!

Phiên âm:
       Nhất nhật chi lực,          nhất nhật chi hiệu.

            Vi
h
ọc chi công bất tại nhật dụng chi ngoại, kiểm thân tắc cẩn ngôn hành, cư
gia tắc sự lai kính trưởng, cùng lý tắc độc thư giảng nghĩa. Chí cận chí dị, tức
kim tiện khả dụng lực; chí cấp chí thiết, tức kim tiện đương dụng lực. Dụng nhất
nhật chi lực, tiện hữu nhất nhật chi hiệu. Chí hữu sở nghi, tầm nhân vấn nan, tắc
trường tiến thông đạt tự bất khả lượng. Nhược tức kim kim dụng lực, tha quá thiểu tráng thời quang, tức tiện tha nhật đắc kiên
hiền nhi sư chi, diệc mạt tất năng hữu ích dã !

Dịch
nghĩa:
                          Một ngày bỏ
công,            một
ngày có ích.

         Nghiên cứu, học hỏi không phải là không có
chút dính líu với những sinh hoạt hàng ngày. Muốn nâng cao việc tự thân tu dưỡng,
thì làm việc phải cẩn thận, nói năng phải chú ý; lúc ở nhà thì phải tôn kính
cha mẹ và người trên; nếu muốn tìm hiểu một đạo lý thì phải tìm tòi trong sách.
Những việc đơn giản thì ngay lập tức đã có thể dốc sức làm; những việc cấp bách
quan trọng thì càng phải bắt tay vào ngay lập tức. Thành quả thu được sẽ xứng với
công sức đã bỏ ra. Gặp phải những việc khó giải quyết thì có thể nhờ người chỉ
bảo. Cứ thường xuyên như vậy sẽ thu hoạch được rất nhiều. Giả sử bây giờ không
chịu khó làm bất cứ việc gì thì sẽ bỏ lỡ mất tuổi trẻ quí báu, cho dù mai sau
có bậc thánh hiền tận tình chỉ bảo thì chưa chắc đã thu được những kết quả tốt hơn.



黃金法則:
                                每日用功,滴水可以穿石.集腋可以成裘只要特之以恒,大功可成.

Phiên âm:
Mỗi nhật dụng công, tích thủy khả dĩ xuyên
thạch. Tập nánh khả dĩ thành cừu chỉ yếu đặc chi dĩ hằng, đại công khả thành.

Lời hay ý đẹp :

        Mỗi
ngày chăm chỉ một chút, kiểu “kiến tha lâu đầy tổ” “ năng nhặt chặt bị”. Chỉ cần
kiên gan, bền chí, sẽ gặt hái thành công lớn.

表扬属于激励因素,可以使孩子滿足和积极向上,不斷進步.即使表扬和激励的方法不是很准确,一般也不會使孩子剷生不滿和消极的情緒.指責批評做得再好也只能起到暫時的警示作用.所以,我門要少用指責,批評的方法,多用表扬鼓励的方法.
                   Phiên âm :

      Biểu dương thuộc vu kích lệ nhân tố, khả dĩ sử
hài tử mãn túc hòa tích cực hướng thượng, bất đoạn tiến bộ. tức sử biểu dương
hòa kích lệ đích phương pháp bất thị ngận chuẩn xác, nhất bàn dã bất hội sử hài
tử sản sinh bất mãn hòa tiêu cực đích tình tự . Chỉ trách phê bình tố đắc tái hảo
dã chỉ năng khởi đáo tạm thời đích cảnh thị tác dụng. Sở dĩ, ngã môn yếu thiểu
dụng chỉ trách, phê bình đích phương pháp, đa dụng biểu dương cổ lệ đích phương
pháp .

Lời hay ý đẹp :

            Biểu dương là một nhân tố để động
viên, có thể giúp trẻ nhỏ cảm thấy thỏa mãn, không ngừng tiến bộ và tích cực đi
lên. Cho dù là cách biểu dương khích lệ không được chính xác, thì bình thường
cũng sè không mang lại cho trẻ nhỏ những tình cảm tiêu cực và ức chế. Chê trách
phê phán, dù có đúng đến đâu thì cũng chỉ mang lại tác dụng cảnh cáo tạm thời.
Cho nên chúng ta nên ít chê trách, phê phán, mà nên biểu dương khích lệ trẻ nhiều
hơn.

                         4. 學而日新,         必有所成.

為學之功有三等焉:汲汲然者,上也;悠悠然者,次者;懵懵然者,又其次也.然而懵懵者非不向學,心未達也,誘而達之,安知懵懵者之不為汲汲也.惟悠悠者最為害導,因循苟,一暴十寒,以至皓首沒世,亦猶夫人而已.古之圣人進修貴勇,如汤之盘銘曰:“笱日新日日新又日新豈有瞬息悠悠之意哉!孔子曰:“有能一日用其力于人矣乎?”蓋深憫學者之悠悠,而翼其奋然用力也.學而能日新,則緝熙不已,造次旡忘舊習浙浙而消,至趣循循而入,欲罢不能,莫知所以然而然.故詩人美汤曰: “圣敬日躋也!”

Phiên âm :

                 Học nhi nhật
tân,    tất hữu sở thành.

        Vị học chi công hữu tam đẳng yên: cấp cấp
nhiên giả, thượng dã; du du nhiên giả, thứ giả; mộng mộng nhiên giả, hựu kỳ thứ
dã. Nhiên nhi mộng mộng giả phi bất hướng học, tâm vị đạt dã, dụ nhi đạt chi,
an tri mộng mộng giả chi bất vị cấp cấp dã. Duy du du giả tối vị hại đạo, nhân
tuần cẩu thả, nhất bạo thập hàn, dĩ chí hạo thủ một thế, diệc do phu nhân nhi
dĩ. Cổ chi thánh nhân tiến tu quí dũng, như Thang chi Bàn Minh viết : “Cẩu nhật
tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân” khởi hữu thuấn tức du du chi ý tai ! Khổng Tử viết :“Hữu năng nhất nhật dụng kỳ lực vu nhân hĩ hồ?”Cái thâm mẫn
học giả chi du du, nhi dực kỳ phấn nhiên dụng lực dã. Học nhi năng nhật tân, tắc
tập hy bất dĩ, tạo thứ vô vong cựu tập chiết chiết nhi tiêu, chí thú tuần tuần
nhi nhập, dục bãi bất năng, mạc tri sở dĩ nhiên nhi nhiên. Cổ thi nhân Mỹ Thang
viết: “ Thánh kính nhật tê dã”!





Dịch
nghĩa:
 
            Học để đổi mới,         bỏ công tất thành.

             Nghiên cứu học hỏi có thể chia ra
ba cấp hạng: người tích cực chủ động là hạng nhất, kẻ ngu ngơ, ù lì là hạng
nhì, loại mù mờ, mộng mị vô hướng, là hạng ba. Những người thuộc hạng ba, không
phải là họ không muốn học, mà chỉ là vì nhận thức và tư tưởng của họ còn chưa
rõ ràng; chỉ cần dẫn dắt cho họ thấy được ý nghĩa chân chính, lợi ích đích thực
của việc học tập, là họ có thể vượt qua được cả những người hạng nhất. Còn những
người mà học hành chểnh mảng, gặp chăng hay chớ, cả thèm chóng chán, thái độ đó
là rất có hại. đến lúc già rồi, kiến thức của họ cũng chỉ sánh ngang với nữ nhi
mà thôi. Bậc thánh hiền xưa nghiên cứu, học tập, quí nhất là ở chỗ biết tích cực
phấn đấu vươn lên. Sách Bản Minh của Như Thang có viết :“ Một ngày đổi mới được
thì ngày ngày cũng đổi mới, tiến bộ được.Trong đó, tuyệt đối không có chút thái
độ lười biếng, lề mề.”Khổng Tử nói: “ Có ai có thể đem hết sức lực của mình ra
để làm việc nhân đức trong một ngày được không ?” Đây chính là lời nói, thái độ
tiếc nuối cho những người có thái độ hững hờ, đủng đỉnh mà hy vọng họ có thể
chăm chỉ luôn luôn phấn đấu, nếu học tập mỗi ngày đều tiến bộ, thì tiền đồ sẽ
xán lạn vô cùng. Cho dù thời gian có gấp gáp thì cũng không quên những gì mình
đã học hỏi được, mà những gì thuộc về thói quen xấu, cũng dần dần thay đổi. Như
thế sẽ hình thành một “vòng quay lương tính”, bắt nó dừng lại cũng không được.Tự
nhiên bản thân cứ thế mà mà liên tục học hỏi. Vì thế mà nhà thơ cổ Mỹ Thang mới
nói: “Thánh nhân là những người luôn luôn mới trong từng ngày”.



Lời hay ý đẹp :

Không có chí, làm việc ắt không thành. Có
chí thì nên.





Trong “Luận ngữ”, Khổng Tử chia ra sự thông
minh, hiểu biết của con người thành bốn loại: Sinh ra đã biết là bậc trên hết.
Học rồi mới biết là hạng thứ.Tối tăm mà chịu khó học là một bậc tiếp theo. Tối
tăm mà không chịu khó học là hạng thấp hơn cả . ( Sinh nhi tri, chi giả thượng giả.
Học nhi tri chi, thứ giả. Khổn nhi học tri, hựu kỳ thứ giả. Khổn nhi bất học,
dân tư vi hạ hĩ :
生而知之,知者,上也.學而知之, 次也. 閫而學知又其次也. 閫而不學民思為下矣)

             5. 希賢希圣,         孰能阻档.

子曰:“吳十有五而志于學,圣人一生只在志學一言.,实能學而不厭,此圣人之所以為圣也.千古圣賢与我同纇人,何為甘于自奔而不學?苛志于學,希賢希圣,孰能御之?是故志學乃作圣之弟一義也.
Phiên âm :

           Hi hiền hi
thánh ,         thục năng trở đáng.

       Tử viết : “ Ngô thập hữu ngũ nhi trí vu học”, thánh
nhân nhất sinh chỉ tại trí học nhất ngôn. Hựu, thực năng học nhi bất yểm, thử
thánh nhân chi sở dĩ vi thánh dã. Thiên cổ thánh hiền dữ ngã đồng loại nhân, hà
vi cam vu tự bôn nhi bất học? Cẩu chí vu học, hi hiền hi thánh, thục năng ngự
chi? Thị  cố trí học nại tác thánh chi đệ
nhất nghĩa dã.

Dịch nghĩa :

          Khổng Tử nói : “Ta 15 tuổi đã bắt đầu xây dựng chí hướng chịu khó học tập”.
Thánh nhân cả đời lập chí học hỏi còn kiên trì không ngừng nghỉ. Đây chính là
con đường để thánh nhân trở thành thánh nhân. Các vị thánh hiền đời xưa, cũng đều
là con người như mọi người chúng ta cả. Vậy tại sao chúng ta lại tự ý vứt bỏ việc
học tập, không chịu nỗ lực việc học hành? Nếu đã có chí học tập, lòng khao khát
vươn lên đạt đến cảnh giới của bậc thánh hiền, thì còn có gì ngăn cản được ta? Vì
thế có thể nói: Muốn thành thánh nhân điều quan trọng nhất phải là quyết chí học
hành .

黃金法則:
旡志則萬事不成!
 Phiên
âm:
          
Vô chí tắc vạn sự bất thành!
Dịch nghĩa:
        
Không có chí vạn sự không thành!
 Lời hay ý đẹp :

  Không có chí tất vạn sự không thành!

                6. 勤習一事,           身增一艺.

善書法者雖多出天性,大半尤侍勤學.朕自幼好書,今年老,雖极匆忙時,必書几行字,一日亦未瞷斷,是故犹未至于巟廢人勤習一事,則身增一艺,若巟初即廢弃也.

 Phiên âm :

          Cần tập nhất sự,          thân tăng nhất nghệ .

         Thiện thư pháp giả tuy đa xuất thiên tính, đại bán vưu thị cần học.Trẫm tự ấu
hiếu thư, kim niên lão, tuy cực thông mang thời, tất thư kỷ hành tự, nhất nhật
diệc vi gián đoạn, thị cố do vị chí vu hoang phế. Nhân cần tập nhất sự, tắc
thân tăng nhất nghệ, nhược hoang sơ tức phế khí dã.

Dịch
nghĩa:
              Chịu khó học
hành,     tài nghệ mình tăng.

          Những người thạo giỏi thư pháp, tuy
được trời phú cho cái tài xuất chúng hơn người, nhưng chủ yếu vẫn là nhờ vào sự
chăm chỉ khổ luyện hàng ngày của họ. Từ nhỏ, Trẫm đã rất thích thư pháp, bây giờ
tuy đã lớn tuổi, cho dù bận rộn đến mấy, hàng ngày, trẫm cũng phải viết mấy chữ
thực hành, không bỏ gián đọan bao giờ. Vì thế mà trình độ không đến nỗi xuống cấp.
Một người chỉ cần chăm chỉ học hỏi, thì học bất cứ mảng trí thức nào cũng đều
có thể nắm chắc. Nhưng nếu không chịu khó ôn tập thường xuyên thì có khác gì tự
vứt bỏ nó .

    黃金法則:
一勤天下旡難事.

Lời hay ý đẹp :


chí thì nên.


            7.日進日新,      精進永固.

:“日新之謂盛德”.學者一日必進一步,方不虛度時日.大凡世间一枝一蓺,其始學者也,不勝其難,似万不可成者.人置而不學,則終旡成矣.所以初學貴有決定不移之志,又貴有甬猛精進之心,尤貴精進而又貞常永固,毫不退轉,則凡之蓺焉有不成者哉!


Phiên âm:
              Nhật tiến nhật tân,        tinh tiến vĩnh cố .

       “Dịch”
vân: “ Nhật tân chi vị thịnh đức”. Học giả nhất nhật tất tiến nhất bộ, phương bất
hư độ thời nhật. Đại phàm, thế gian nhất chi nhất nghệ, kỳ thủy học dã, bất thắng
kỳ nan, tự vạn bất khả thành giả. Nhân trí nhi bất học, tắc chung vô thành hĩ.
Sở dĩ, sơ học quí hữu quyết định bất di chi chí, hựu quí hữu dũng mãnh tinh tiến
chi tâm, vưu quí tinh tiến nhi hựu trinh thường vĩnh cố, hào bất thoái chuyển, tắc
phàm chi nghệ yên hữu bất thành giả tai !

Dịch nghĩa :

             Mỗi
ngày một tiến bộ,     tài năng mới vững bền.

        
Sách “Knh Dịch” có viết: “ Mỗi ngày đạt một chút tiến bộ, tức là nuôi dưỡng
cho chính mình những đức tính cao quí”. Con người ta chăm học hỏi và từng ngày
tiến bộ thì mới không hoang phí thì giờ quí báu. Trên đời này, bất cứ học một kỹ
nghệ mới nào, lúc mới học thì luôn luôn cảm thấy cực kỳ khó khăn, và cho rằng
không thể nào học được nữa. Nếu trong đầu cứ mang suy nghĩ như vậy mà thối chí,
không tiếp tục học nữa, thì cuối cùng cũng chẳng nên cơm cháo gì. Do đó, lúc mới
bắt đầu học, ta phải có ý chí kiên trì, bền bỉ, quyết tâm không ngừng phấn đấu,
không sợ vấp ngã. Đó là đức tính quí. Nếu có được đức tính quí báu đó thì có
môn học khó khăn nào mà ta không học được cơ chứ?



黃金法則:
只要孩子門對待學習和事業具备了持之以恒的品格,万事必成。

 Phiên âm:
  Chỉ yếu
hài tử môn đối đãi học tập hòa sự nghiệp cụ bị liễu trì chi dĩ hằng đích phẩm
cách, vạn sự tất thành.
Lời hay ý đẹp :

  Dù
là trẻ nhỏ, nếu có lòng say mê học tập, kiên trì theo đuổi sự nghiệp, thì vạn sự
tất thành.


                      8.  讀經 史,         開卷有益.

古圣人所道之言即經,所行之事即史.開卷即有益于身,尔等平日誦讀及教子弟,惟以經史為要.夫吟詩作賦,雖文人之事,然爇讀經史,自然次弟能之.幼學斷不可令看小說.小說之事,皆敷演而成,旡寔在之外,令人觀之,或信為真,而不肖之徒,竟有校法行之者.彼焉知祚小說者譬喻指點之本心哉!是皆訓子之道,尔等其切記之.

Phiên âm:
                Độc kinh sử,       khai quyển hữu ích.

     Cổ thánh nhân sở đạo chi ngôn tức kinh, sở
hành chi sự tức sử. Khai quyển tức hữu ích vu thân. Nhĩ đẳng bình nhật tụng độc
cấp giáo tử đệ, duy dữ kinh sử vị yếu. Phù ngâm thi, tác phú, tuy văn nhân chi
sự, nhiên nhiệt độc kinh sử, tự nhiên thứ đệ năng chi. Âu học đoạn bất khả lệnh
khán tiểu thuyết. Tiểu thuyết chi sự, giai phu diễn nhi thành, vô thực tại chi
ngoại, lệnh nhân quan chi, hoặc tín vị chân, nhi bất tiêu chi đồ, cánh hữu hiệu
pháp hành chi giả. Bỉ yên tri tộ, tiểu thuyết giả thí dụ chỉ điểm chi bản tâm
tai! Thị giai huấn tử chi đạo, nhĩ đẳng kỳ thiết kí chi.



Dịch nghĩa :
           Đọc thông kinh sử , thạo sử,
             có ích ngay từ quyển đầu.

         Lời của thánh hiền ngày xưa, đã
thành kinh điển. Việc các vị làm đã đi vào lịch sử. Đọc sách cổ xưa có rất nhiều
điều lợi cho bản thân. Chúng ta thường ngày, đọc sách, xem sử, đều lấy kinh sử
ra làm nội dung chủ yếu để răn dạy con cháu. Ngâm thơ, làm phú, tuy đó là việc
làm của các văn nhân học sĩ, nhưng nếu chúng ta thuộc sử và nhớ kinh sử thì
chúng ta cũng có thể làm được như họ.
          Giai đoạn trẻ nhỏ đi học, không
nên để cho chúng đọc nhiều tiểu thuyết. Bởi tiểu thuyết là những điều người viết
tưởng tượng ra, không có thực. Nếu để trẻ em đọc nhiều những loại sách này, thì
chúng sẽ dễ tin là thật, đặc biệt là những em có hạnh kiểm kém, chúng sẽ bắt
chước những việc làm của các nhân vật trong tiểu thuyết. Những điều tác giả viết
trong tiểu thuyết chỉ là những điều ví von, thí dụ. Chúng đâu có hiểu những mục
đích, thủ pháp chân chính mà nhà văn viết ra .

黃金法則:

讀万卷書,行万里路,讀一切好書,就是和許多高尚的人說話
Dịch nghĩa:
Độc vạn quyển thư, hành vạn lý lộ, độc nhất
thiết hảo thư, tựu thị hòa hứa  đa cao
thượng đích nhân thuyết hoạt.

Lời hay ý đẹp :

       Đọc vạn quyển sách, như đi
vạn dặm đường. Đọc được sách hay như được nói chuyện với những con người cao
thượng.

                 9. 知之為知,            不知為非.

            人多強不知以為知,乃大非善事,是故孔子云: “知之為知之,不知為不知.朕自幼即如此.每見高年人,必問其已往經历之事而切記于心, 決不自以為知而不訪于人也.

Phiên âm:

           
     Tri chi vi tri, 
    bất tri vi phi.

     
Nhân đa cường, bất tri dĩ vị chi, nãi đại phi thiện sự, thị cố Khổng tử
vân: “ Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri”. Trẫm tự ấu tức như thử. Mỗi kiến
cao niên nhân, tất vấn kỳ dĩ vãng kinh sử chi sự nhi thiết ký vu tâm, quyết bất
tự dĩ vi tri nhi bất phỏng vu nhân dã .  

Dịch nghĩa:
         Nhiều người mắc phải cái bệnh giấu dốt. Đó là điều thật không hay.Vì thế đức
KhổngTử nói:“ Biết nói là biết, không biết nói là không biết !”.Trẫm từ nhỏ
luôn làm như thế. Mỗi khi gặp một người từng trải việc đời, ta đều phải hỏi họ
xem những việc mà họ đã kinh qua trước đây, rồi ghi nhớ trong lòng, quyết không
cho cái gì mình cũng biết mà không chịu học hỏi người khác.

黃金法則:
在學習上,知之為知,不知為非,一定要誠寔.學習如此,做人也應此.

Phiên âm:
   Taïi
hoïc taäp thöôïng, tri chi vi tri, baát tri vi phi, nhaát ñ
nh yeáu thaønh thöïc. Học tập như thử, tố nhân dã ứng thử .

Dịch
nghĩa:
 Lời hay ý đẹp :

Trong
học tập: biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe. Nhất định phải thành
thực. Học tập là như thế. Làm người cũng nên như vậy.





Khổng
Tử  (
孔子) (551-479.TCN), tên là Khổng
Khâu , tự là Trọng Ni. Người nước Lỗ (nay là Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông Trung Quốc).
Ông là nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà giáo dục, người sáng lập của Nho gia đời
Xuân Thu Trung Quốc, được người đời tôn là “Vạn thế sư biểu” (
萬世師表 )


                10.     監古智今,   
庶可寡過.
       朕自幼好看書,今雖高,万几之暇手不釋卷,誠以天下事繁,日有万几,為君者一身外九重之內,所知豈能盡乎?時常看書知古人事,庶可以寡過.故朕理天下事五十余年旡甚差忒者,亦看書之益也!

Phiên âm:
                 Giám cổ tri kim,    thứ khả quả quá .

         Trẫm tự ấu, hiếu khán thư, kim,
tuy niên cao, vạn kỷ chi hạ thủ, bất thích quyển, thành dĩ thiên hạ sự phồn, nhật
hữu vạn kỷ, vi quân giả nhất thân ngoại cửu trùng chi nội, sở tri khởi năng tận
hồ? Thời thường khán thư tri cổ nhân sự, thứ khả dĩ quả quá. Cố trẫm lý thiên hạ
sự thập dư niên vô thậm sai thắc giả, diệc khán thư chi ích dã !

Dịch nghĩa:
                     Xem cổ biết
kim,       ít phạm sai lầm.

      
Từ nhỏ, trẫm đã thích đọc sách. Nay tuy tuổi đã cao, nhưng được phút thảnh
thơi giữa bộn bề công việc, thì ta vẫn không rời sách. Việc đời nhiều vô kể, mỗi
ngày có biết bao nhiêu công việc cần giải quyết, làm quân vương một nước, cả
ngày ở lì trong chốn thâm cung, sao có thể biểt hết mọi chuyện trong thiên hạ
đây? Thường xuyên đọc sách là có thể biết được những việc cổ nhân làm, đồng thời
giúp cho bản thân ít phạm sai lầm hơn. Cho nên ta nắm triều chính hơn năm mươi
năm nay, chưa hề mắc chút sai sót. Đây cũng chính là cái lợi được từ mỗi cuốn
sách ta đọc vậy.

黃金法則:
      以史為鏡,可以知興亡,以人為鏡,可以明得失.
Phiên âm:  

Dĩ sử
vi kính, khả dĩ tri hưng vong, dĩ nhân vi kính, khả dĩ minh đắc thất.
Dịch nghĩa
:
Lời hay ý đẹp :

Lấy sử làm gương, biết điều hưng vong,
Lấy người làm gương, hay điều được mất.


           11. 一卷一益,           一日之益.

凡人進德修業,事事從讀書起.多讀書則嗜欲炎,嗜欲炎則費用省,費用省則營求少,營求少則立品高.讀書之法,以經為主,苟經求深邃,然后觀史.觀史則能知人之賢愚,遇事得失亦易明了,痼凡事可論貴賤老少,惟讀書不問貴賤老少,讀書一卷,則有一卷之益;讀書一日,則有一日之益,此夫子所以發僨忘食,學如不及也.

Phiên âm:

    Nhất quyển nhất ích,       nhất
nhật chi ích .

        Phàm nhân tiến đức
tu nghiệp, sự tòng độc thư khởi. Đa độc thư tắc thị dục viêm, thị dục viêm tắc
phí dụng tỉnh, phí dụng tỉnh tắc doanh cầu thiểu, doanh cầu thiểu tắc lập
phẩm cao. Độc thư chi pháp, dĩ kinh vi chủ, cầu kinh cầu thâm thúy, nhiên hậu
quán sử. Quán sử tắc năng tri nhân chi hiền ngu, ngộ sự  đắc thất diệc dị minh liễu, cố phàm sự khả luận
quí tiện lão thiểu, duy độc thư bất vấn quí tiện lão thiểu, độc thư nhất quyển
tắc hữu quyển chi ích, độc thư hữu nhật, tắc hữu nhật chi ích, thử Phu Tử sở dĩ
phát phẫn vong thực, học như bất cập dã !

Dịch nghĩa:
                                           Đọc một quyển ích một quyển
                                                Đọc một ngày lợi một ngày.

Phàm người nào muốn tu dưỡng, nâng cao đạo đức,
học hành thành đạt, thì phải bắt đầu từ việc đọc sách. Đọc sách nhiều, giúp
chúng ta tránh xa những ham muốn tư lợi cá nhân tầm thường. Tránh xa được những
ham muốn ấy, thì có thể tiết kiệm được tiền của vật chất. Tiết kiệm được vật chất
tiền của, thì sẽ tránh được chuyện luồn lách, mưu danh quyền thế. Không luồn
lách, không mưu danh, cầu lợi thì đạo đức tu dưỡng tất theo dó mà được nâng
cao. Nói về đọc sách thì đọc những điều mà sách vở đã ghi chép lại là chủ yếu.
Nếu đã thấu hiểu được những điều thâm thúy trong đó rồi, thì có thể coi đến
sách sử. Coi sách sử là có thể hiểu được trí tuệ, hay cái ngu muội của người đời;
lúc sử lý công việc sẽ dễ dàng thấy được mối quan hệ được mất trong đó. Cho nên
việc gì cũng có thể xem xét giàu nghèo, già trẻ… thì chỉ có đọc sách, thì mới
không cần bàn đến việc giàu sang, hèn kém già trẻ. Đọc sách một ngày là một
ngày có ích. Đây chính là điều mà KhổngTử quên ăn quên ngủ lo việc học hành
không tấn tới.



黃金法則:

自古以來,在人生的戰場都是有知胜旡知,大知胜小知.一个人要想超越狹小的視野,修正自己的心态,心須去不斷地學習.

Phiên
âm :

 Tự cổ dĩ lai, tại nhân sinh đích chiến trường
đô thị hữu tri thắng vô tri, đại tri thắng tiểu tri. Nhất cá nhân yếu tưởng
siêu việt hiệp tiểu đích thị dã, tu chính tự kỷ đích thái, tâm tu khứ bất đoạn
địa học tập.
Dịch nghĩa:
Lời hay ý đẹp :

Từ cổ
chí kim trên chiến trường đời người, có trí tuệ thắng không có trí tuệ. Trí lớn
thắng trí nhỏ.Một người muốn mở mang tầm mắt, tu chỉnh tâm thái, thì nhất định
phải không ngừng học hỏi.

                12.不忍舍處,            方得書味.

朱子云:“讀書須讀到,不忍舍處,方是得讀真味.若讀之數過,略曉其義即厭之,欲別求書者,則是于此一卷書猶未得趣也”.此言极是.朕自幼亦尝發憤讀詩看書,當其讀某一經之時,固講論而切記之.年來翻悅其中,复有宜詳解者,
朱子期言,凡讀書者皆宜知之.

Phiên
âm :
                   Bất
nhẫn xá xứ,      phương đắc thư vị .

     Chu Tử vân: “ Độc
thư tu độc đáo, bất nhẫn xả xứ, phương thị đắc độc chân vị. Nhược độc chi sổ
quá, lược hiểu kỳ nghĩa tức yếm chi, dục biệt cầu thư giả, tắc thị vu thử nhất
quyển thư do vị đắc thú dã”. Thử ngôn cực thị. Trẫm tự ấu diệc thường phát phẫn
độc thư, khán thư, đương kỳ độc mỗ nhất kinh chi thời, cố giảng luận nhi thiết
ký chi. Niên lai phiên duyệt kỳ trung phục hữu nghi tường giải giả, Chu Tử kỳ
ngôn.
.                  Dịch nghĩa:
                                      Đọc sách phải
say sưa, mới hiểu sách sâu xa.

         Chu Tử nói: “Đọc
sách là phải đọc đến độ hăng say, tay không rời sách, thì mới hiểu hết được những
hàm nghĩa chân chính nằm trong sách. Nếu chỉ đọc qua loa đại khái, hiểu lơ mơ
nghĩa sách, mà đã chán nản, thì tức là chưa thật sự tìm hiểu hết nội dung tư tưởng
chủ đạo của cuốn sách”. Lời nói này quả rất đúng đắn. Trẫm từ nhỏ đã có chí quyết
tâm nỗ lực đọc sách. Mỗi lần đọc một cuốn sách, đều phải hiểu rõ hàm nghĩa ẩn
sâu trong đó, rồi khắc ghi trong lòng. Mấy năm nay, lật lại những cuốn sách từng
đọc trước đây, lại phát hiện ra thêm nhiều chỗ cần phải đào sâu hơn nữa. Phàm
ai là người đọc sách cần nên biết lời nói này của Chu Tử.

黃金法則:
凡是有所作為的人,在其從事的工作上進行學習与研究都相當投入.要想亨受成工的真味就必須一步一个脚印地走下去,一蹴而就的捷径是沒有的.

Phiên âm :
         
Phàm
thị hữu sở tác vi đích nhân, tại kỳ tòng sự đích công tác thượng ti
ến hành học tập dữ nghiên cứu đô tương đang đầu nhập.Yếu tương hanh thụ thành công đích “chân vị” tựu tất tu nhất bộ nhất cá cước ấn địa tẩu
hạ khứ, nhất xúc nhi tựu đích tiệp kính thị một hữu đích.

Dịch
nghĩa:
 Lời hay ý đẹp :

      
Phàm là những người có sức làm việc thì đều hăng say học tập nghiên cứu khi
làm công việc của mình.
Muốn có thành công thì phải không ngừng vươn lên
từng bước. Sẽ không có con đường tắt để công việc đụng vào là xong ngay.

           13.  循字有致,      
為學不廢.

朱子云:“讀書之法當循字而有常致,一而不懈,從容乎句讀文之间,而体驗乎操存踐履之寔,然后心靜理明.漸見意味,不然則雖廣求博取,日誦五車,亦矣益于學哉”!此言乃讀書之至要也,人之讀書,本欲存諸心,体諸身,而寔得于以也,如不然,將書泛然讀之,何用?凡讀書人皆宜奉此以為訓也.

Phiên âm:
             Tuần tự hữu chí,         vi học bất phế .

        Chu Tử vân: “Độc
thư chi pháp đang tuần tự nhi hữu thường chí, nhất nhi bất giải, tòng dung hồ
cú độc văn chi gian, nhi thể nghiệm thao tồn tiễn lữ chi thực, nhiên hậu tâm
tĩnh lý minh.Tiệm kiến ý vị, bất nhiên tắc tuy quảng cầu bác thủ, nhật tụng ngũ
xa, diệc hĩ ích vu học tai”!Thử ngôn nãi độc thư chi chí yếu dã, nhân chi độc
thư, bản dục tồn chư tâm, thể chư thân, nhi thực đắc vu dĩ dã, như bất nhiên,
tương thư phiếm nhiên độc chi, hà dụng? Phàm độc thư nhân giai nghi phụng thử
dĩ vi huấn dã.

Dịch nghĩa:
              Học hành thấu đáo ,      việc học không phí.

       Ông Chu Tử viết:
“Nói về cách đọc sách, là nên tiến dần từng bước, kiên trì không ngừng nghỉ. Học
tri thức từ trong văn chương từ ngữ của sách. Tu dưỡng đạo đức và sức lực phải
trải qua thực tiễn thì mới có thể đạt tới mức ôn hòa, nhã nhặn, thuần hậu, lãnh
ngộ đạo lý, dần dà hiểu được những hàm ý sâu xa trong sách vở. Nếu không làm được
như vậy thì dù mỗi ngày có đọc cả ngàn cuốn sách thì việc nghiên cứu, học tập
cũng trở nên vô dụng”. Câu nói này rất quan trọng đến việc đọc sách. Người đọc
sách vốn nên đem những tri thức lý luận khắc ghi vào trong đầu rồi mới dùng
chúng hướng dẫn thực tiễn. Nếu không làm được như thế mà chỉ đọc sách qua loa hời
hợt, chung chung thì còn có tác dụng gì? Phàm những ai đọc sách, nên nhớ điều
này.

黃金法則:
在學習時,必須遵循一个循序漸進的過程,任何人也不可能一下子把某种學問學深,學透,必然會有一个過程.如果急于求成是很難學好一門學問的.
Phiên âm:
       Tại học tập thời, tất tu tuân tuần nhất
cá tuần tự tiệm tiến đích quá trình, nhiệm hà nhân dã bất khả năng nhất hạ tử
bả mỗ chủng học vấn học thâm, học thấu, tất nhiên hội hữu nhất cá quá trình.
Như quả cấp vu cầu thành thị ngận nan học hảo nhất mơn học vấn đích. 
_
Dịch nghĩa:
 Lời hay ý đẹp :

         Trong học tập phải tuân theo
quá trình tuần tự từng bước. Dù là ai đi chăng nữa cũng không thể một sớm một
chiều mà thành thục, tinh thông được. Phải có một quá trình. Nếu nóng vội thành
công thì sẽ rất khó học tốt một môn học.

             14.体認事務,           据理审事.

道理之載于典籍者,一定而有限而天下事千變万化,其端旡窮.故世之苦讀書者,往往遇事有執泥处,而經歷世故多者,又每逐事圓触而旡定見,此皆一偏之見.朕則謂當讀書時,須要体認世務;而應事時,又當据書理而审其事.宜如此,方免二者之弊.

Phiên âm:
                              Thể nhận sự
vu,      cứ lý thẩm sự
.

       Đạo lý chi tải vu
điển tịch giả, nhất định nhi hữu hạn nhi thiên hạ sự thiên biến vạn hóa, kỳ
đoan vô cùng. Cố thế chi khổ độc thư giả, vãng vãng ngộ sự hữu chấp nê xứ, nhi
kinh lịch thế cố đa giả, hựu mỗi trục sự viên xúc nhi vô định kiến, thử giai nhất
thiên nhi kiến. Trẫm tắc vị đương độc thư thời, tu yếu thể nhận thế vụ; nhi ứng
sự thời, hựu đương cứ thư lý nhi thẩm kỳ sự. Nghi như thử, phương miễn nhị giả
chi tệ.    


Dịch nghĩa:

             Nắm chắc công việc,         giải trình có lý.

        Những đạo lý được ghi trong sách vở là có hạn,
Mà sự vật trong thế gian lại thiên biến vạn hóa, vô cùng, vô tận. Cho nên những
người chăm chỉ đọc sách, mỗi lần sử lý sự việc đều luôn bắt chước theo những đạo
lý trong sách, nên khó tránh khỏi sự rập khuôn, câu nệ. Còn những người có kinh
nghiệm sống phong phú, xử lý công việc luôn khéo léo mà lại chẳng có chủ kiến.
Hai loại người trên đều mang tính phiến diện. Ta nhận thấy lúc đó, sách nhất định
phải liên hệ với tình hình thực tế trong cuộc sống; khi xử lý việc gì cũng nên
tham khảo đạo lý trong sách vở. Như thế mới tránh khỏi hai trường hợp tai hại
trên .    
 黃金法則:
        在學習或教育孩子的過程中,都要注意追求理論与寔踐的統一

Phiên âm:

    Tại học tập hoặc giáo dục hài tử đích quá
trình trung, đô yếu chú ý truy cầu lý luận dữ thực tiễn đích thống nhất.

 Dịch
nghĩa:
Lời hay ý đẹp :

Trong
quá trình học tập hay dạy bảo con cái, đều phải chú ý đến sự thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn .



             15.窮理求知,              行事得之.

先儒有言:“窮理非得之一端,所得非一處.或在讀書上得之,或在講論上得之,
或在思慮上得之, 或在 行事上得之, 讀書得之雖多,講論得之尤速,思慮得之最深,行事得之最寔”此語最為切當,有志于各物致知之學者,其宜智之
.

Phiên âm :

                
Cùng lý cầu chi,        hành sự đắc
chi.

      
Tiên Nho hữu ngôn: “ Cùng lý phi nhất đoan, sở đắc phi nhất xứ. Hoặc tại
độc thư thượng đắc chi, hoặc tại giảng luận thượng đắc chi,
hoặc tại tư lự thượng đắc chi, hoặc tại hành
sự thượng đắc chi, độc thư đắc chi tuy đa, giảng luận đắc chi vưu tốc, tư lự đắc
chi tối thâm, hành sự đắc chi tối thực”, thử ngữ tối vi thiết đương, hữu trí vu
cách vật trí chi học giả, kỳ nghi trí tri. 

Dịch nghĩa:

               Lý lẽ cần học hỏi,      thực tiễn biết nhiều hơn.

          
Các vị Nho gia học sĩ ngày trước từng nói: “ Phương pháp tìm tòi đạo lý
không chỉ có một, mà phong phú đa dạng vô cùng . Có thể học từ sách vở, có thể
học từ việc bàn bạc phải trái, có thể học qua ngẫm nghĩ, suy xét và cũng có thể
học trong thực tiễn gặp phải trong cuộc sống hàng ngày. Những tri thức học được
trong sách vở tuy rất nhiều, nhưng trong quá trình bàn bạc, phải trái, thì lại
tiếp thu nhanh hơn, học qua cách ngẫm nghĩ suy xét là sâu nhất và học trong trải
nghiệm của bản thân mà tính thực tế hơn cả”. Những lời này nghe rất có lý. Những
người tu trí học hành nên hiểu rõ nội dung này

黃金法則;
一般來說,學習知识的途径,有四种:讀書,討論,思考,寔踐.從寔踐中狭取知识显得更加有效.


Phiên âm :

        Nhất bàn lai thuyết, học tập tri thức đích
đồ kính, hữu tứ chủng: độc thư thảo luận, tư khảo, thực tiễn. Tòng thực tiễn
trung hiệp thủ tri thức hiển đắc cánh gia hữu hiệu .

Dịch nghĩa:
 Lời hay ý đẹp :

        Bình thường mà nói, quá trình học hỏi
tri thức có thể phân ra làm bốn: đọc sách, thảo luận, suy ngẫm, thực tiễn. Những
tri thức đạt được từ thực tiễn rõ ràng có hiệu quả hơn nhiều . 

            16.好學多問,            遍求名師.

朕八歲登极,即知黽勉學問,彼時教我句讀者,有張林二內侍,俱系明時多讀書人.其教學惟以經書為要,至于詩文則在所后.及至十七八,更篤于學.逐日未理事前,五更即起誦讀;日暮理事稍暇,复講論琢磨,竟至過勞,痰中帶血,亦未少輟,朕少年好學如此,更耽好筆墨,又翰林沈荃素學明時董其昌字体,曾教我書法.張,林二內侍俱及見明時善于書法之人,亦常指示.故朕之書法有异于尋常人者,以此.

Phiên âm :
                Hiếu học đa vấn,        biến cầu danh sư.

      Trẫm
bát tuế đăng cực, tức tri mẫn miễn học vấn . Bỉ thời giáo ngã cú độc thư, hữu
Trương, Lâm nhị nội thị, cụ hệ Minh thời đa độc thư nhân. Kỳ giáo học duy dĩ
kinh thư vi yếu, chí vu thi văn tắc tại sở hậu. Cập chí thập thất bát, cánh đốc
vu học. Trục nhật vị lý sự tiền, ngũ canh tức khởi tụng độc; nhật mộ lý sự sáo
hạ, phúc giảng luận trác ma, cánh chí quá lao, đàm trung đái huyết, diệc vị thiểu
chuyết. Trẫm thiếu niên hiếu học như thử, cánh đam hiểu bút mặc, hựu hàn lâm Trầm
Thuyên tố học minh thời Đổng Kỳ Xương tự thể, tằng giáo ngã thư pháp. Trương,
Lâm nhị nội thị cụ cập kiến Minh thời thiện vu thư pháp chi nhân, diệc thường
chỉ thị. Cố trẫm chi thư pháp hữu dị vu tầm thường nhân, dĩ thử.


Dịch nghĩa:
                
Hiếu học sẽ biết nhiều,   
                
khắp nơi tìm thầy giỏi.

           Trẫm
từ khi lên ngôi đế vị lúc tám tuổi, đã biết phải chăm học, khổ luyện. Dạy bảo
ta học hành lúc đó là hai vị họ Trương và họ Lâm . Từ thời nhà Minh, họ là người
đã đọc sách nhiều. Họ chủ yếu dạy ta những sách vở kinh điển, còn thơ, từ, văn,
phú  thì chỉ là thứ yếu. Đến khi ta 17,
18 tuổi, ta càng hứng thú học hành. Hàng ngày, ta đều dạy từ canh năm để đọc
sách, trước khi giải quyết việc triều chính. Buổi chiều có chút thời gian nghỉ
ngơi, thư giãn, ta lại cùng mọi người trau giồi, nghiên cứu. Do phải làm việc
quá nhiều, có lúc lại ho ra máu, mặc dù thế, ta cũng chưa bao giờ lơ là hay
gián đoạn việc học tập. Từ lúc thiếu thời, ta rất có hứng thú học hành và yêu
thích thư pháp. Một vị hàn lâm tên là Trầm Thuyên, ông cũng từng học thư pháp của
nhà thư họa Đồng Kỳ Xương thời Minh đã từng dạy ta thư pháp. Hai vị nội thị
Trương - Lâm đều có qua lại với những nhà thư pháp bậc thầy đời Minh. Họ cũng
thường chỉ bảo rất nhiều cho ta. Vì sao thư pháp của ta lại khác với những người
học thư pháp bình thường thì nguyên nhân cũng chính là đây.
黃金法則:

       對孩子"好學多問的學習精神,家長應予鼓厉.
Phiên
âm:
        Đối hài tử “hiếu học đa vấn” đích học tập tinh thần, gia trưởng ứng dư cổ lệ.

Dịch nghĩa:
 Lời hay ý đẹp :

Các vị
phụ huynh nên khuyến khích tinh thần hiếu học, ham học của trẻ nhỏ.

                  17.欲善其事,          先利其器.

論語云:“子貢問為仁.子曰:“工欲善其事,必先利其器”.此言实為要學制事之要也.即如今之讀書,人欲應試也,必平日所學淵深,所記廣博,自然寫得出.凡遇一事,經歷多者,按則例而理之, 則失者少.此即器利而事自善之理也.

Phiên âm :
                 Dục thiện kỳ
sự,       tiên lợi kỳ khí .

      
Luận ngữ vân: “ Tử Cống vấn vị nhân. Tử viết : “ Công dục thiện kỳ sự, tất
tiên lợi kỳ khí”. Thử ngôn thực vị yếu học chế sự chi yếu dã. Tức như kim chi độc
thư, nhân dục ứng thí dã, tất bình nhật sở học uyên thâm, sở ký quảng bác, tự
nhiên tả đắc xuất. Phàm ngộ nhất sự, kinh lịch đa giả, án tắc lệ nhi lý chi, tắc
thất giả thiểu. Thứ tức khí lợi nhi sự tự thiện chi lý dã .

Dịch nghĩa:
             Muốn làm được tốt ,        trước hết phải giỏi.

      
Sách Luận Ngữ có viết : “ Tử Cống hỏi làm thế nào để bồi dưỡng phẩm chất
cao thựơng” . Khổng Tử nói: “Người thợ mộc
muốn làm tốt công việc của mình, trước hết phải mài giũa công cụ của mình
cho sắc bén đã”. Đây là then chốt của việc học hành và giải quyết công việc .
Cũng giống như người ta đi học bây giờ, nếu muốn đi thi đỗ thì phải đọc sách,
tích lũy thật nhiều kiến thức sâu rộng. Ghi nhớ kỹ trong lòng. Như thế lúc làm
bài mới có thể “đặt bút thành văn”. Nếu gặp phải chuyện gì cần phải giải quyết,
người có nhiều kinh nghiệm, cứ theo nếp cũ mà làm, sẽ ít gặp thất bại hơn. Vì
thế mà nói, bình thường, có kinh nghiệm và có bản lĩnh thì đến khi hành sự sẽ dễ
dàng hơn nhiều .
黃金法則:

干在何事情都要做好准备,這祥才能收到事半工倍的效果,工欲舊其事必先利其器.
Phiên
âm:
      Can tại
hà sự tình đô yếu tố hảo chuẩn bị, giá tưởng tài năng thu đáo sự bán công bội đích
hiệu quả, công dục cựu kỳ sự tất tiên lợi kỳ khí.
Dịch nghĩa:
Lời hay ý đẹp :

      Làm bất
cứ việc gì cũng phải chuẩn bị thật tốt, thế mới đạt được hiệu quả cao. Làm ít
được nhiều (hay: muốn làm tốt công việc thì cần phải có công cụ tốt )

                     18.虛心向學,         習人之善.

人心虛則所學進,盈則所學退.朕生性好問,雖极粗鄙之人,彼亦有中理之言,朕于此等處決不遺棄,心搜其源而切記之,并不以為自知自能而棄人之善也.

Phiên âm:
          Hư tâm hướng học,        tập nhân chi thiện.

     Nhân
tâm hư tắc sở học tiến, doanh tắc sở học thoái. Trẫm sinh tính hiếu vấn, tuy cực
thô bỉ chi nhân, bỉ diệc hữu trung lý chi ngôn, trẫm vu thử đẳng xứ quyết bất
di khí, tâm sưu kỳ nguyên nhi thiết ký chi, tịnh bất dĩ vi tự tri tự năng nhi
khí nhân chi thiện dã.
Dịch nghĩa:

      
Kiêu ngạo khiến cho ta thụt lùi, khiêm tốn làm cho ta tiến bộ. Trẫm vốn
không ngại khi học hỏi bất cứ cứ ai, dù đó là người dưới. Cho dù những người
thuộc tầng lớp hạ đẳng thì cũng có lúc họ nói ra được những lời có lý vô cùng.
Đối với những lời nói của lớp người dưới đó, ta không nên khinh rẻ và hỏi cho
ra nhẽ rồi ghi nhớ trong đầu. Quyết không được cho rằng mình hiểu biết nhiều,
mình có năng lực mà không chịu học hỏi người khác .

黃金法則:
       謙虛使人進步, 驕傲使人洛后.
Phiên âm:
Kiêm hư sử nhân tiến bộ,
kiêu ngạo sử nhân lạc hậu.

Dịch nghĩa:
Lời hay ý đẹp :

Kiêu
ngạo khiến cho ta thụt lùi, khiêm tốn làm cho ta tiến bộ.


              
19.一字未明,           必加尋繹.

朕自幼讀書,間有一字未明,必加尋繹,務至明愜于心而后已.不恃讀書為然,治天下國家亦不外是也.

 Phiên
âm
:
          Nhất tự vị minh,          tất gia
tầm dịch.

      Trẫm
tự ấu độc thư, gian hữu nhất tự vị minh, tất gia tầm dịch,, vụ chi minh thiệp
vu tâm nhi hậu dĩ. Bất thị độc thư vi nhiên, trị thiên hạ quốc gia diệc bất ngoại
thị dã .

Dịch nghĩa:
        Trẫm
thích đọc sách từ nhỏ, gặp chỗ nào không hiểu, nhất định phải đào sâu, tìm
tòi,xem xét nhiều hơn cho tới khi sáng tỏ mới đi vào thực tiễn. Không chỉ đọc
sách, mà trị thiên hạ, lãnh đạo đất nước, cũng làm như vậy.
黃金法則:
冰深三尺,非一日之寒一門知識乃至种學說的掌握理解,如同人与人相遇,相識相知需要很長時間一样,通常都是需要一个過程的.
 Phiên âm:
             “Băng thâm tam
xích, phi nhất nhật chi hàn” nhất môn tri thức nãi chí chủng học thuyết đ
ích chưng ốc lý giải, như đồng nhân dữ nhân
ơng ngộ, tương thức, tương tri nhu yếu ngận trưng thời gian nhất dạng, thông thưng đô thị nhu yếu nhất cá quá trình đích.

Dịch nghĩa:
“Băng dày ba thước, không thể vì lạnh có một ngày”.Việc thấu
hiểu một môn học hay một học thuyết cũng giống như việc người ta gặp nhau, rồi
hiểu nhau phải có một quá trình mới thành được.
.   
Lời hay ý đẹp :

 Việc nắm bắt, thấu
hiểu một môn học hay thậm chí một học thuyết cũng như việc gặp nhau giữa người
với người vậy, đều cần phải có thời gian, cần một quá trình mới có thể thành được.
 
               
20. 研讀古書,        审其大義.

讀古人書,當审其大義之所在,所謂一以貫之也.若其句之間,即古人亦互有异同,不必指摘辯駁以自伸一偏之說.
Phiên
âm
:
          Nghiên cứu cổ thư,      thẩm kỳ đại nghĩa.

Độc
cổ nhân thư, đương thẩm kỳ đại nghĩa chi sở tại, sở vị nhất dĩ quán chi dã. Nhược
kỳ tự câu chi gian, tức cổ nhân diệc hỗ hữu dị đồng, bất tất chỉ trích biện bác
dĩ tự thân nhất thiên chi thuyết. 

Dịch
nghĩa:

    Nghiên cứu sách cổ,      học điều đại nghĩa.

        Đọc sách cổ của người xưa, nên nghiên cứu những ý tưởng trung tâm, đó cũng là xuyên thấu cái bên trong của
sự vật. Còn về vấn đề hình thức ghi chép, dù là cổ nhân thì cũng có những cái
sai khác, không nhất thiết phải tầm chương tích cú rồi biện bác, dựa vào đó để
chứng minh ý kiến chủ quan của cá nhân mình.

黃金法則:
切勿讀死書,死讀書糾纏于書本字句之間,那就成了舍本逐未了.

Phiên
âm:
Thiết vật độc tử thư, tử
độc thư cú triền vu thư bản tự chi gian, na tựu thành liễu xá bản trục vị
liễu.

Dịch nghĩa:
 Lời hay ý đẹp :

Không
nên đọc những loại sách cứng nhắc, mà cũng không nên cứng nhắc khi đọc sách. Cứ
quẩn quanh vướng mắc trong câu chữ, sách vở thì tức là bỏ gốc lấy ngọn
.


            21.知書明理,          貴在貫通.

讀書以明理為要.理既明則中心有主,而是非邪正自判矣.遇有疑難事,但据理直行,則失俱既旡可愧,“:學于古訓乃有获.凡圣賢經書,一言一事俱有至理,讀書時便宜留心体會,此可以為我法,此可以為我戒久久貴通,則事至物來,隨感即應而不特思素矣.

Phiên
âm:

       Tri thư minh
lý,          quí tại quán thông.

          Độc thư dĩ minh lý vi yếu. Lý kí minh
tắc trung tâm hữu chủ, nhi thị phi tà chính tự phán hĩ. Ngộ hữu nghi nan sự, đản
cứ lý trực hành tắc thất cụ hữu vô khả quỉ, “Thư” vân: học vu cổ huấn nãi hữu
hoạch”. Phàm thánh hiền kinh thư, nhất ngôn nhất sự cụ hữu chí lý, độc thư thời
tiện nghi lưu tâm thể hội, thử khả dĩ vi ngã pháp, thử khả dĩ vi ngã giới cửu cửu
quí thông, tắc sự chí vật lai, tùy cảm tức ứng nhi bất đặc tư tố hĩ.

Dịch nghĩa:

       Mục đích của việc đọc sách là thấu hiểu
rõ đạo lý sự việc. Khi đã thấu suốt rồi thì trong lòng sẽ đạt được chủ kiến rõ
ràng, việc phân biệt đúng, sai, tốt xấu, sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Gặp những việc
khó xử, thì chỉ cần theo đạo lý mà dũng cảm tiến hành, thì cho dù kết quả cuối
cùng thế nào đi chăng nữa, sách“Thựng thư” có viết: “ Học những điều dạy bảo của
cổ nhân đều sẽ có thu hoạch”.Nói chung trong những tác phẩm của thánh hiền, mỗi
câu, mỗi chữ, đều có ẩn chứa đạo lý sâu xa. Lúc đọc sách thì phải tập trung
chuyên tâm để lĩnh hội. Những điều này đáng để chúng ta học tập, đặng cảnh giới
cho bản thân không mắc phải sai phạm nữa. Dần dà, ta có thể lĩnh hội hết những
điều thâm túy trong sách vở, khi gặp chuyện thì trong đầu sẽ có phản ứng ngay,
lập tức nghĩ ra biện pháp giải quyết ngay tức thì, không phải vắt óc, vò đầu bứt
tai suy nghĩ nữa.



黃金法則:

讀書使人明智.但明智是見立在貫通書本知識的基础之上的.通過把貫通后的知識運用于寔際事務中,則可使自己在各种事務中游刃有余,毫發旡伤.
Phiên
âm:
Độc
thư sử nhân minh trí. Đản minh trí thị kiến lập tại quán thông  thư bản tri thức đích cơ sở chi thượng đích.
Thông qua bả quán

 Dịch
nghĩa:
 Lời hay ý đẹp :

      
Đọc sách làm cho con người ta sáng suốt. Nhưng sáng suốt là phải dựa
trên sự thấm nhuần nhưng tri thức trong sách. Thông qua việc vận dụng những gì
đã thấm nhuần vào thực tế hàng ngày, dần dần khiến cho ta điêu luyện thành thạo
như đầu bếp đưa dao không mắc sai phạm.
                 22. 不為書愚,
        不為書欺.

凡看書不為書所愚,始善.即如童子云:“風不鳴条,雨不破塊,謂之升平世界”.果使風不鳴条,則萬物向以鼓动發生?雨不破塊,則田亩如向耕作布种?以此觀之,俱系粉飾空文而已.
Phiên
âm:
            
B
ất vi thư ngu,       bất
vị thư khi .

      Phàm khán thư bất vi thư sở ngu, thủy thiện.
Tức như Đồng Tử vân: “Phong bất minh điều, vũ bất phá khối, vị chi thăng bình
thế giới”. Quả sử phong bất minh điểu, tắc vạn vật hướng dĩ cổ động phát sinh?
Vũ bất phá khối, tắc điền mẫu như hướng canh tác bố chủng ? Dĩ thử quán chi, cụ
hệ phấn sức không văn nhi dĩ.

 Dịch nghĩa:


Không ngu muội vì sách,     không
để sách làm ngu.

      
Đọc sách mà không bị sách làm cho lú lẫn, ấy mới là sáng suốt. Như Đổng
Trọng Thư thời Hán có nói: “Gió thổi mà không làm cành cây xào xạc. Mưa rơi chẳng
làm đất sụt mòn. Ấy mới là thiên hạ thái bình. Nếu gió thổi mà thực sự không
làm cây xào xạc, thì vạn vật trong trời đất dựa vào đâu để sinh trưởng? Mưa rơi
mà không làm cho đất sụt lở thì sao có thể gieo trồng, cầy cấy? Từ đó cho thấy,
đó chỉ là những lời nói rỗng tuếch, mới nghe, có vẻ có lý, nhưng thực ra đó là
những lời lẽ chưa được suy nghĩ cân nhắc
ký.

 
黃金法則:
尽信書不如旡書关鍵是讀書要活,不能拘泥于字句間.
Phiên âm:
Tận tín thư bất như vô thư”quan kiện thị độc
thư yếu hoạt, bất năng   câu nệ vu tự câu
gian .
Dịch nghĩa:
Lời hay ý đẹp : “Không đọc sách cò hơn quá tin sách”,
mấu chốt ở chỗ đọc sách sách là phải li động, không được rập khuôn trong câu chữ.

       
                 23.博采众長,          垂示永久.

朕自幼留心典籍,比年己釆所編定書約有數十种皆已次弟告成.至于字學,所觀尤切.“字汇失之簡略,“正字通涉于泛濫.兼之名方風土不同,語音名异,司馬光之类編分部或未明;沈約之聲韻,后人不旡訾議;“洪武正韻多所駁辯,迄不能行,仍依沈韻,朕參說諸家,究心考證,如我朝清文以及蒙古,西域,洋外諸國,多從字母而來,音雖由地而殊,而字莫不寄于點画,兩字合作一字,二韻切而一音,因知天地一元音發于人聲,人聲之形像寄于字体.故朕酌訂一書,命曰康熙字典增字汇之闕遺“,|“正字通蘩冗,務使詳略得中,歸于正當,庶可垂示永久云.
Phiên
âm:

       Trẫm tự ấu lưu tâm điển tích, tỉ niên kỷ
thái sở biên định thư ước hữu sổ thập chúng gia dĩ thử đệ cáo thành. Chí vu tự
học, sở quan vưu thiết. “Tự hội” thất chi giản lược, “Chính tự thông”thực vu
phiếm lạn. Kiêm chi danh phương phong thổ bất đồng, ngữ âm danh dị,Tư Mã Quang
chi “Loại biên” phân bộ hoặc vị minh. Thẩm Ước chi thanh vận, hậu nhân bất vô tư nghị
; “Hồng vũ chính vận” đa sở bác biện, hất bất năng hành, nhưng y thẩm vận, trẫm
tham thuyết chư gia, cứu tâm khảo chứng, như ngã triều Thanh văn dĩ cập Mông Cổ,
Tây Vực dương ngoại chi quốc, đa tòng tự mẫu nhi lai, âm tuy do địa nhi thù,
nhi tự mạc bất ký vu điểm họa, lưỡng tự hợp tác nhất tự, nhị vận thiết nhi nhất
âm, nhân tri thiên địa nhất nguyên âm, phát vu nhân thanh, nhân thanh chi hình
tượng, ký vu tự thể. Cố trẫm chước đính nhất thư mệnh viết “Khang Hy tự điển”  tặng “tự hội”chi khuyết di, san “Chính tự
thông” phồn nhũng đắc trung, vụ xứ tường lược, qui vu chính đáng, thứ khả thùy
kỳ thị vĩnh cửu vân.

Dịch
nghĩa
:    
          Học rộng từ đại chúng,    ghi lại
để lâu dài.

          Trẫm từ nhỏ đã chú ý tới các lọai điển
tich, mấy năm gần đây. lại biên soạn vài chục loại sách, công việc ấy cũng đang
lần lượt hoàn thành. Còn về nghiên cứu văn tự, thì ta lại càng chú ý hơn. Ta nhận
thấy cuốn “Từ hội” thì quá giản lược. Cuốn “Chính tự thông” với những nội dung liên
quan thì lại rối rắm lung tung. Thêm nữa, những phong tục ở các nơi trên đất
Trung Hoa lại khác nhau, ngôn ngữ cũng thiên biến vạn hóa, nên sự rối rắm càng
tăng. Cuốn “Loại biên” của Tư Mã Quang, có đôi chỗ lại không sáng tỏ. Học thuyết
Thanh vận của Thẩm Ước cũng bị người đời sau đề xuất nhiều ý kiến không tán
thành. Cuốn “Hồng vũ chính vận” phân tích khá thấu đáo nhưng tiếc là nó không
được lưu hành rộng rãi, nên sự phổ biến bị hạn chế, người ta cứ theo âm vận của
Thẩm Ước mà làm âm chuẩn. Ta đã phỏng theo ý kiến của mọi người, nghiên cứu, khảo
chính kỹ lưỡng mới phát hiện ra rằng những loại văn tự giống như Mãn Thanh ta
hay Mông Cổ, Tây Vực, hay các nước hải ngoại, phần lớn từ ngữ đều là mẫu tự được
đọc ghép mà thành, do các vùng khác nhau mà dẫn đến phát âm cũng khác nhau,
nhưng hình thể chữ viết vẫn là do các nét tạo thành, cho nên trẫm đã viết lại lấy
tên là “Khang Hy tự điển” đã bổ xung những thiếu sót của từ hội từ cuốn “Chính
tự thông” lược biên trong dó qui về chuẩn xác hơn, để có thể lưu lại lâu dài
sau này.
黃金法則:
       讀書破萬卷,下笔如有神.一个人的能力和知識是有限的,因此,博釆眾長就成為古今有志者走向成功的必备手段.

Phiên
âm:
Độc thư phá vạn quyển, hạ
bút như hữu thần. Nhất cá nhân đích năng lực hòa tri thức thị hữu hạn đích,
nhân thử, bác thái chúng trưởng tựu thành vị cổ kim hữu chí giả tẩu hướng thành
công đch tất bị vu đoạn.

Dịch nghĩa:
Lời hay ý đẹp :

          Đọc sách thấu vạn quyển, ha bút viết
như thần. Tri thức và năng lực con người là có hạn, do đó cần học tập con người
về mọi mặt. Đây là phương thức cần có từ xưa tới nay để trở thành một người có
chí đi tới thành công.

          
24.讀書貴精,         學博致約.

圣賢之書所載皆奷地古今万事万物之理,能因書以知理,則理有寔用.由一理之微,可以包六合之大;由一日之近,可以尽天古之遠,世之讀書者生乎百世之后,而欲之前百世之前;處乎一室之間,而欲悉天下之理,非書曷以致之!書之在天下,五經而下若傳若史,諸子百家,上而天下而地,中而人与物,固旡一事之不具,亦旡一理之不該.學者誠即事而求之,則可以通三才,而兼备乎万事万物之理矣.雖然書不貴多而貴精,學必由博而致約,果能精而約之,以貴其多與博,合其大而极于旡余,會其全而备于有用 圣人之道豈外是哉?
 Phiên âm:
         Độc
thư quí tinh,       học bác chí ước.

              Thánh hiền chi thư sở tải giai
thiên địa cổ kim vạn sự vạn vậtt chi lý, năng nhân thư dĩ tri lý, tắc lý hữu thực
dụng. Do nhất lý chi vi khả dĩ bao lục hợp chi đại, do nhất nhật chi cận, khả
dĩ tận thiên cổ chi viễn. Thế chi độc thư giả sinh hồ bách thế chi hậu, nhi dục
chi bách thế chi tiền; xử hồ nhất thất chi gian, nhi dục tất thiên hạ chi lý,
phi thư hạt dĩ chí chi! Thư chi tại thiên hạ, ngũ kinh nhi hạ, nhược truyền nhược
sử, chư tử bách gia, thượng nhi thiên, hạ nhi địa, trung nhi nhân dữ vật, cổ vô
nhất sự chi bất cụ, diệc vô nhất lý chi bất hài. Học giả thành tức sự nhi cầu
chi, tắc khả dĩ thông tam tài, nhi kiêm bị hồ vạn sự vạn vật chi lý hĩ. Tuy
nhiên thư bất quí đa nhi quí tinh, hoc tất do bác nhi chí ước, quả năng tinh
nhi ước chi, dĩ quí kỳ đa dữ bác, hợp kỳ đại nhi cực vu vô dư, hội kỳ toàn nhi
bị vu hữu dụng thánh hiền chi đạo khởi ngoại thị tai !

Dịch nghĩa:
                     Đọc sách cốt lấy tinh túy,   
                     học rộng học cả giản đơn.
Những điều các bậc thánh hiền soạn ra trong sách cổ
đều nằm trong khoảng thế gian này, từ cổ chí kim, đạo lý của vạn sự vật đọc qua
sách là có thể hiểu rõ được. Hiểu được những đạo lý này rồi thì rất có lợi cho
chúng ta. Một đạo lý dù nhỏ nhất cũng có thể hàm ẩn những điều rộng lớn trong
thế gian, những việc xảy ra trong một ngày có thể giúp ta suy đoán biết được những
sự việc xảy ra của ngàn vạn năm trước. Con người của mấy trăm năm sau, muốn hiểu
biết được sự việc của mấy trăm năm trước, cũng như người ở lỳ trong phòng, muốn
thấu hiểu được mọi đạo lý trong thiên hạ nếu không nhờ sách vở thì sao có thể
làm được. Sách vở trong thiên hạ như “Ngũ kinh” ( gồm Kinh Dịch, Thượng Thư, Xuân Thu,Thi Kinh, Lễ Ký ) như các loại
truyền kỳ sự tích cùng nhân dân bách tính, từ thiên văn cho tới địa lý hay người
với sự vật trong thế gian, không có việc gì là không nằm trong đó, không có đạo
lý nào là không được bao hàm. Người đọc sách nếu đi tìm câu trả lời cho một sự
việc từ trong sách vở thì có thể thông hiểu ba thứ thiên, địa, nhân và thấu suốt
đạo lý vạn vật. Tuy đọc sách là “quí hồ tinh bất quí hồ đa”, nhưng cũng cần phải
đi từ cái rộng lớn mà đạt tới cái tinh giản, nhưng nếu thực sự đạt tới mức tinh
thâm giản dị, lại lĩnh hội thấu đáo, quán thông mọi sự nhờ những kiến thức được
tổng hợp này là để chuẩn bị cho những điều cần thiết tức thời. Đạo lý bậc thánh
hiền sao có thể vượt qua ngoài những khoảng này.

黃金法則:

如果沒有廣博的知識和過硬的本嶺就会因准备不充分而錯失良机抱恨终.
Phiên
âm:
Như quả một hữu quảng bác đích tri thức hòa quá ngạnh đích
bản lĩnh tựu hội nhân chuẩn bị bất sung phân nhi thác thất lương cơ bão hận
chung sinh.

Dịch
nghĩa: 
  
Lời hay ý đẹp :

Nếu không có kiến thức sâu rộng
cùng bản lĩnh lão luyện thì sẽ không có sự chuẩn bị, do đó mà để lỡ tuột mất cơ
hội, sẽ phải hối hận cả đời.

               25.以德服人,
       心悅誠服.

王師之平蜀也,大破逆賊王平蕃于保寧,获苗人三千,皆釋而歸之,及進兵滇中,吳世璠窮蹙遣苗人济師以拒我,苗不肯行,:“天朝活我恩德至厚,我安忍以兵刃相加遺耶?”夫苗之犷捍,不可以禮義馴束,宜若天性然者,一旦感恩怀德,不忍輕倍主上,有內地土民初未易能者,而苗顧能之,是可取之.子與氏不云乎:“以力服人者,非心服也,力不贍也以德服人者,中心悅而誠服也寧謂苗异乎人而不可以德服也耶?
Phiên
âm:
Dĩ đức phục nhân,    tâm duyệt thành phục.

Vương sư chi bình Thục dã, đại phá nghích tặc Vương Bình Phiên vu Bảo Ninh, hoạch Miêu nhân tam
thiên, giai thích nhi qui chi. Cập tiến binh Điền Trung, Ngô Thế Phan cùng xúc,
khiển Miêu nhân tế sư dĩ cự ngã. Miêu bất khẳng hàng, viết : “Thiên triều hoạt
ngã ân đức chí hậu, ngã an nhẫn dĩ binh nhân tương gia khiển na?” Phù Miêu chi
quánh hãn bất khả dĩ lễ nghĩa tuần thúc, nghi nhược thiên tính nhiên giả. Nhất
đán cảm ân phó đức bất nhẫn khinh bội chúa thượng, hữu nội địa thổ dân sơ vị dịch
năng giả, nhi Miêu cố năng chi, thị khả thủ chi, tử dữ thị bất vân hồ: “Dĩ lực
phục nhân giả, phi tâm phục dã, lực bất thiệm dã; dĩ đức phục nhân giả, trung
tâm duyệt nhi thành phục dã ”. Ninh vị Miêu dị hồ nhân nhi bất khả dĩ đức phục
dã gia ?

Dịch
nghĩa:

                     Lấy đức thuyết phục người,
                         lòng người vui mến phục.

Quân
đội của chúng ta bình định Tứ Xuyên, đã đánh baị quân nghịch tặc Vương Bình ở Bảo
Ninh, bắt giữ hơn ba trăm người Miêu làm tù binh, rồi sau đó đem phóng thích tất
cả, tới khi đại quân tiến vào trung bộ Vân Nam, Ngô Thế Phồn lâm vào đường cùng,
đi cầu người Miêu chi viện hòng chống trả đại quân ta. Người Miêu nhất quyết
không đồng ý, họ nói: “Triều đình nhà Thanh đối với chúng tôi ân đức thâm hậu,
ân trọng như núi cao, sao chúng tôi có thể nhẫn tâm lấy ân báo oán chống lại họ
được đây?”Những người Miêu đó, tính tình hung bạo, không thể dùng những lễ
nghĩa thông thường để thuần phục. Dường như đây là bản tính trời sinh khiến
tính tình họ như thế. Nhưng nếu khiến họ sinh lòng cảm ơn, chịu ân đức thì họ sẽ
không nhẫn tâm quay lưng lại phản bội ân nhân của mình. Quan lại và bách tính
Trung nguên cũng chưa chắc đã làm được như họ. Ấy thế mà những người Miêu lại
làm được. Thật là đáng quí vô cùng. Mạnh Tử từng nói rằng: “ Dùng vũ lực để
chinh phục người khác thì người ta ắt không tâm phục, khẩu phục, mà cho rằng chỉ
vì sức lực họ non yếu, nên không đủ mạnh để chống trả. Chỉ có dùng đạo đức nhân
nghĩa để chinh phục thì mới khiến người ta thuận lòng thán phục” . Lẽ nào lại
nói người Miêu và người bình thường không giống nhau, không thể dùng nhân đức cảm
hóa được?

黃金法則:

孩子的心灵是一块神奇的土地,播上思想的种子,就會獲得行為的收獲,播上行為的种子,就能獲得習貫的收獲,播上習貫的种子,就能獲得品德的收獲;播上品德的种子,就能得到命運的收獲.
Phiên
âm
:
      Hài tử đích tâm linh thị nhất khối thần kỳ đích thổ đa, bá thượng tư tưởng đích
chủng tử tựu hội hoạch đắc hành vi đích thu hoạch, bá thượng hành vi đích chủng
tử, tựu năng hoạch đắc tập quán đích thu hoạch, bá thượng tập quán đích chủng
tử, tựu năng hoạch đắc phẩm đức đích thu hoạch, bá thượng phẩm đức dích chủng tử, tựu năng đắc đáo mệnh vận đích
thu hoạch.

Dịch
nghĩa:
Lời hay ý đẹp :

         Tâm hồn trẻ nhỏ như một mảnh đất diệu
kỳ, gieo hạt giống tất sẽ gặt hái thành công. Gieo hành động thì sẽ gặt hái
thói quen. Gieo thói quen thì sẽ gặt hái nhân đức. Gieo phẩm đức thì sẽ gặt hái
số   phận
.

                  26. 仁者之心,           隨感而應.

仁者以万物為一体,惻隱之心,觸外發現.故极其量,則民胞物与,旡初所不周.而語其心,則慈祥愷悌,隨感而應.凡有利于人者,則為之;凡有不利于人者,則去之.事旡大小,心自旡窮, 盡我心力, 隨分各得也.

Phiên
âm:
                   Nhân giả chi
tâm,      tùy cảm chi ứng.

Nhân
giả dĩ vạn vật vi nhất thể, trắc ẩn chi tâm, xúc ngoại phát hiện. Cố cực kỳ lượng,
tắc dân bảo vật dữ, vô sơ sở bất chu. Nhi ngữ kỳ tâm, tắc tư tường khải đệ, tùy
cảm nhi ứng. Phàm hữu lợi vu nhân giả, tắc vi chi, phàm hữu bất lợi vu nhân giả,
tắc khứ chi. Sự vô đại tiểu, tâm tự vô cùng, tận ngã tâm lực, tùy phận các đắc
dã.

Dịch
nghĩa:
           
Lòng người nhân đức,  cư sử tùy
tình cảm.


         Những người nhân nghĩa cho rằng vạn vật
là một sự thống nhất, có hồn, có tình, nên luôn đem tình thương của mình đến với
mọi vật. Bởi thế nên đối với bách tính, họ luôn yêu thương và quan tâm, coi
bách tính như anh em ruột thịt, luôn luôn chăm lo, giúp đỡ. Nói về tấm lòng của
họ, ắt phải là từ bi, lương thiện, làm theo cảm tính. Việc gì có lợi cho người
khác thì sẽ làm, việc gì không có lợi cho người khác thì không làm. Mọ việc
không phân biệt lớn nhỏ. Tấm lòng người nhân ái là vô tận, chỉ cần toàn tâm dốc
sức làm là có kết quả.
黃金法則:

仁愛之心是人間最偉大的一种道德.愛心是人纇最美好的种情操.

       Nhân ái chi tâm thị nhân gian tối vĩ đại
đích chủng đạo đức. Ái tâm thị nhân loại tối mỹ hảo chủng tình thao.

Dịch
nghĩa:
Lời hay ý đẹp :

         Lòng nhân ái là thứ tình cảm
đạo lý vĩ đại nhất trong thế gian . Tình yêu thương là tình cảm tốt đẹp nhất của
nhân loại.


.. ;                                                                  27. 教化善遍,
         懷柔遠人.
                                                  
 尓等見朕時常所使新滿洲數百,勿易視之也.昔者太祖,大宋之時,得東省一二人,即如珍玉愛惜眷養.朕自登极以來,新滿洲等各帶其佐嶺或合族來歸順者.太皇太后聞之,向朕曰:“此雖尓祖上所遺之福,亦由尓怀柔遠人,教化普遍,方能令此輩傾心歸順也.豈可易視之?圣祖母因喜极,降是旨也.

Phiên âm:
        Giáo hóa thiện biến,      phó
nhu viễn nhân.

Nhĩ đẳng kiến trẫm thời thường sở sử Tân
Mãn Châu số bách, vật dịch thị chi dã. Tích giả Thái tổ, Thái tông chi thời, đắc
Đông tỉnh nhất nhị nhân, tức như trân ngọc ái tích quyền dưỡng. Trẫm tự đăng cực
dĩ lai Tân Mãn Châu đẳng các đái kỳ tá lĩnh hoặc hợp tộc lai qui thuận giả.
Thái hoàng thái hậu văn chi, hướng trẫm viết: “Thử tuy nhĩ Tổ thượng sở di chi
phúc, diệc do nhĩ phó nhu viễn nhân giáo hóa phổ biến, phương năng lệnh thử bối
khuynh tâm qui thuận dã. Khải khả dị thị chi?” Thánh tổ mẫu nhân hỷ cực, giảng
thị chỉ dã.

Dịch
nghĩa:
      
Giáo hóa điều thiện,      úy lạo
người nơi xa.

        Các người thường thấy trẫm phái hàng
trăm người đi xứ vùng Tân Mãn Châu. Việc này tuyệt đối không được xem nhẹ. Thời
Thái Tổ, Thái Tông ngày trước có được vài người ở tỉnh Đông qui thuận là được
quí trọng như châu báu, đối đãi rất hậu hĩnh.Từ khi trẫm lên ngôi đến nay, Tân
Mãn Châu và các vùng khác có rất nhiều thủ lĩnh dẫn binh lính hoặc cả toàn tộc bách
tính tới xin qui thuận. Thái Hòang thái hậu biết được việc này đã có nói với ta
: “ Đây tuy là hồng phúc của tổ tiên để lại, nhưng cũng do con biết dùng tấm
lòng nhân đức úy lạo các vùng phía xa, họ chịu hoàng ân to lớn mới thành tâm,
thành ý đến qui thuận đó. Chuyện này sao có thể coi nhẹ được ?” Thánh Tổ mẫu vì
quá vui mừng nên mới hạ thánh chỉ này.

黃金法則:

每个人都希望得到別人的关愛,尤其是身陷絕境之時.父母教育孩子也要樂于关愛他人,以此為人生最大的幸福.
Phiên
âm:

    Mỗi cá nhân đô hy vọng đắc đáo biệt nhân đích
quan ái, vưu kỳ thị thân hãm tuyệt cảnh chi thời. Phụ mẫu giáo dục hài tử dã yếu
lạc vu quan ái tha nhân, dĩ thử vi nhân sinh tối đại đích hạnh phúc.

Dịch
nghĩa:
Lời hay ý đẹp :

       Ai cũng
mong được người khác quan tâm yêu thương, đặc biệt là những lúc một thân cô độc.
Cha mẹ nuôi dạy con cái cũng phải quan tâm chăm sóc chúng, lấy đó làm hạnh phúc
lớn nhất của đời người.

                   28.嘉納良言,       聞過則改.

今天下承平,朕猶時刻不倦勤修政事.前三孽作亂時因朕主見專城,以致成功,惟大兵永興被困之際,至信息不通朕心猶之現于詞色.一日,議政王大臣入內議軍旅事,奏畢僉出,有都統畢立克图独留,向朕云:“臣观陛下近日天顏稍有忧色.上試思之,我朝滿州兵將若五百人合队,誰能抵敌?不日永興之師捷音必至.陛下独不观太祖太宗?為軍旅之事臣為見眉顰一次.皇上若如此,則懦怯不及祖宗矣.何必以此為忧也.”朕甚是之.不日永興疌音果至.所以,朕從不敢輕量人,謂其旡知.凡人各有識見.常与諸大臣言,但有所知,所見,即以奏聞,言合乎理,朕即嘉納.都統畢立克图漢仗好,且极其成人也.
Phiên
âm:
      Gia nạp lương ngôn,      văn
quá tắc cải.

Kim
thiên hạ thời bình, trẫm do thời khắc bất quyện cần tu chính sự. Tiền tam nghiệt
tác loạn thời nhân trẫm chủ kiến chuyên thành, dĩ chí thành công, tuy đại binh
Vĩnh Hưng bị khốn chi tế, chí tin tức bất thông, trẫm tâm do chi, hiện vu từ sắc.
Nhất nhật, nghị chính vương đại thần nhập nội nghị quân lữ sự, tấu tốt thiêm xuất
Đô Thống tốt Lập Khắc Đồ độc lưu hướng trẫm vân: “ Thần quan bệ hạ cận nhất
thiên nhan sảo hữu ưu sắc . Thượng thí tư chi, ngã triều Mãn Châu binh tướng
nhược ngũ bách nhân hợp đội, thùy năng chỉ địch? Bất nhật vĩnh hưng chi sư tiệp
âm tất chí. Bệ hạ độc bất quan Thái Tổ, Thái Tông hồ?”Vi quân lữ chi sự, thần vị
kiến mi tần nhất thứ. Hoàng thượng nhược như thử, tắc nọa khiếp bất cập tổ tông
hĩ. Hà tất dĩ thử vị ưu dã.”Trẫm thậm thị chi. Bất nhật Vĩnh Hưng tiệp âm quả
chí . Sở dĩ trẫm tòng bất cảm khinh lượng nhân, vị kỳ vô tri . Phàm nhân các hữu
thức kiến . Thường dữ chư đại thần ngôn, đản hữu sở chi, sở kiến tức dĩ tấu
văn, ngôn hợp hồ lý, trẫm tức gia nạp . Đô Thống Tốt Lập Khắc Đồ, hán trượng hảo,
thả cực kỳ thành nhân dã.  

Dịch
nghĩa:
                  Lời nói phải ,          củ
cải cũng nghe.

Giờ
đây thiên hạ thái bình, trẫm vẫn chuyên tâm giải quyết công việc quốc gai chính
sự không biết mệt mỏi. Ngày trước khi Ngô Tam Quế, cùng bọn “Tam phiên” nổi lên
làm loạn, ta chú ý vững vàng, bình tĩnh mới bình định được lũ phản loạn này một
cách thành công. Chỉ có lần đại quân ta bị vây khốn ở Vĩnh Hưng, do tin tức
không thông và không rõ ràng, nên ta vô cùng lo âu. Tâm trạng ấy lộ rõ trên nét
mặt và lời nói của ta, Một hôm các đại thần vào cung bàn về việc lớn của nghĩa
quân, sau khi tấu trình xong, các đại thần lần lượt ra về, chỉ có Đô Thống Tốt
Lập Khắc Đồ là còn chưa đi và ông ấy nói với ta:“ Thần trông sắc mặt của điện hạ
mấy hôm nay dường như có chút buồn lo. Người thử nghĩ mà xem, quân binh bát lộc
của Đại Thanh cứ năm trăm người hợp lại thành một đội xung phong giáng trận thì
còn có ai chặn nổi. Mấy hôm nữa, đại quân ngoài Vĩnh Hưng tất có tin mừng thắng
trận, điện hạ sao không nghĩ tới Thái Tổ Thái Tông xưa đã dùng binh như thế
nào? Khi hai bên giao chiến, hạ thần chưa từng thấy các vị trau mày một lần. Điện
hạ như thế này thì chưa bằng tổ tiên của chúng ta rồi.” Ta thấy lời nói đó rất
đúng đắn. Mấy hôm sau quả nhiên có tin thắng trận ở Vĩnh Hưng truyền về. Từ đó,
ta không bao giờ nói rằng người khác không biết gì, không dám coi thường người
khác, Mỗi người đều có kiến giải riêng của mình. Ta thường nói với các vị đại
thần rằng: cho dù các ngươi thấy cái gì, biết cái gì cũng đều có thể tâu cho ta
hay, Nếu là ý kiến hợp lý, ta sẽ tiếp nhận ngay, đô thống Tốt Lập Khắc Đồ không
những là một trang anh hùng mà còn là một người thành thật.
   
黃金法則:

      人誰旡過,過而能改,善莫大焉.
Phiên âm:

Nhân thùy vô quá, quá nhi
năng cải, thiện mạc đại yên.

Dịch
nghĩa
:
Lời hay ý đẹp :

Không
ai là không mắc lỗi. Biết lỗi thì sửa sai. Ấy là điều thiện vô cùng.

            29. 修德之功,          在于主敬.

子曰:“鬼神之為德,其盛矣乎!”使天下之人,介明盛服,以乘祭祀.洋洋乎如在其上,如在其左右.”蓋明在礼樂,幽有鬼神.然敬鬼神之心,非為禍福之故,乃所以全吾身之正气也.是故君子修德之切.莫大于主敬.內主于敬,則非僻之心,旡自而動;外主旡敬,則惰幔之气旡自而生.念念敬斯念念,正時時敬斯時時,正事事敬斯事事;正君子旡在而不敬,故旡在而不正.“:明明在下赫赫在上.”維此文王,小心翼翼,昭事上帝,聿懷多福.”其斯之為与?



Phiên
âm:
    Tu đức
chi công,          tại vu chủ kính.
                               
Tử
viết: “ Quỉ thần chi vị đức, kỳ thịnh hĩ hồ!” “Sử thiên hạ chi nhân, giới minh
thành phục, dĩ thừa tế tự. Dương dương hồ như tại kỳ thượng, như tại kỳ tả hữu”.
Cái minh tại lễ nhạc u hữu quỉ thần. Nhiên kính quỉ thần chi tâm, phi vị họa
phúc chi cố, nãi sở dĩ toàn ngô thân chi chính khí dã. Thị cố quân tử tu đức
chi thiết, mạc đại vu chủ kính. Nội chủ vu kính, tắc phi tịch chi tâm, vô tự
nhi động; ngoại chủ vô kính, tắc đọa mạn chi khí vô tự nhi sinh. Niệm niệm kính
tư niệm niệm, chính thời thời kính tư thời thời, chính sự sự kính tư sự sự;
chính quân tử vô tại nhi bất kính, cố vô tại nhi bất chính. “Thi” viết: “Minh
minh tại hạ xích xích tại thượng .” Duy thử Văn Vương, tiểu tâm dực dực, chiêu
sự thượng đế duật hoài đa phúc”. Kỳ tư chi vị dữ?

Dịch
nghĩa:
Tu công tích đức,       tại
lòng thành kính.

          Khổng Tử nói: “ Những điều ân huệ hay trừng phạt do quỉ thần mang đến thật
sự không nhỏ, khiến cho người người trong thiên hạ phải chỉnh tề mũ áo, thành
kính làm những công việc cúng tế. Làm như quỉ thần ngự trị, ngạo nghễ trên cao,
mà cứ y như ở ngay bên cạnh con người vậy”. Nhân gian có lễ lạc, âm thế có quỉ
thần. Người ta kính phụng quỉ thần không phải sợ quỉ thần đem lại tai ương hay
may mắn, mà để nuôi dưỡng cho bản thân cái chính trực, thẳng thắn. Do đó bậc
quân tử tu dưỡng đức hạnh quan trọng nhất là có một tấm lòng thành kính, ắt
không sinh ra những tệ lậu hạ lưu khinh bạc. Bất cứ lúc nào trong tim cũng phải
có một tấm lòng thành kính. Đây chính là vì sao bậc quân tử đi đến đâu cũng có
được sự tôn kính, đi đến đâu cũng là người đứng đắn. “Kinh thi” có nói: “ Ở chỗ
tối quang minh chính đại, ra nơi sáng chính đại quang minh”. Chính vì Châu Văn
Vương, một lòng thành kính hầu phụng trời đất nên có được nhiều phúc trị quốc
bình thiên hạ”. Lẽ nào không phải chỉ những việc làm này hay sao ?
黃金法則:

孩子处于德,,体諸方面莫定基礎的阶段,培養他們的義感,就能使他們從小對事物.對人与人之間的各种觀系具有一定的刃識能力,學會平等待人,不歧视人,對人有同情心.

Phiên
âm:
Hài tử xứ vu đức, trí,
thể chư phương diện mạc định cơ sở đích giai đoạn, bồi dưỡng tha môn đích nghĩa
cảm, tựu năng sử tha môn tòng tiểu đối sự vật. Đối nhân dữ nhân chi gian đích
các chủng quan hệ cụ hữu nhất định đích nhận thức năng lực, học hội bình đẳng
đãi nhân, bất kỳ thị nhân, đối nhân hữu đồng tình tâm.

Dịch
nghĩa:
Lời hay ý đẹp :

Trẻ nhỏ đang trong giai đoạn xây dựng ba mặt:
phẩm đức, trí tuệ, thể chất, nếu nuôi dưỡng tâm hồn chính nghĩa cho chúng, thì
sẽ làm cho chúng từ nhỏ sẽ có một năng lực nhận thức nhất định đối với các mặt
quan hệ giữa sự vật với nhau và giữa con người với con người, học được cách đối
sử bình đẳng, không phân biệt đối sử, có tấm lòng đồng cảm với mọi người . 

            30.    誠而有信,        不欺暗室.

大學”“中容俱以慎獨為訓,則為圣賢弟一要節.后人廣其說曰:“暗室不欺.”所謂暗室有二義焉;一是私居獨處之時,一在心曲隱微則人不及之,惟君子謂此時指視必嚴也.战战栗栗兢兢業業,不動而敬,不言而信斯城不愧于屋漏而為正人也夫!

Phiên
âm:

       “Đại Học” “Trung Dung” cụ dĩ “thận độc”
huấn, tắc vi thánh hiền đệ nhất yêu tiết. Hậu nhân quảng kỳ thuyết viết: “Ám thất
bất khi”. Sở vị ám thất hữu nhị nghĩa yên ; nhất thị tư cư độc xứ chi thời, nhất
tại tâm khúc ẩn vi tắc nhân bất cập chi, duy quân tử vị thử thời chi thị tất
nghiêm dã. Tai tai lật lật căng căng nghiệp nghiệp, bất động nhi kính, bất ngôn
nhi tín tư thành bất quỉ vu ốc lậu nhi vị chính nhân dã phù ! .

Dịch
nghĩa:

       “Sách Đại học” ,”Trung dung “ đều khuyên
người ta phải “cẩn độc”, tức là sống một mình cũng phải nghiêm túc, không được
tùy tiện. Thánh nhân xưa coi đây là lễ tiết quan trọng nhất. Người đời sau đã mở
rộng thành “Bất khi ám thất”. Cái gọi là “ám thất” có hai hàm nghĩa: một là chỉ
lúc một người sống đơn độc một mình, hai là chỉ nơi sâu kín trong lòng người.
Khi người ta sống một mình thì người ngoài khó thấy rõ lời nói, cử chỉ của anh
ta, lại không rõ được ý nghĩ thẳm sâu trong lòng người đó. Chỉ có những người
quân tử mới nhận ra được rằng, vào những lúc như thế, đặc biệt phải chú ý tới lời
nói và suy nghĩ của chính mình, cẩn thận lưu ý, không được chút sơ xuất lơ
đãng, thì cho dù không làm bất cứ cái gì, không nói bất cứ lời nào, cũng phải
khiến người ta tin cậy. Đây mới chính là quân tử “bất khi ám thất” !  

黃金法則:

一个人可以目欺,但是絕對旡法欺人念头即使在微細,总有被人看穿的時候.誠信既是做人的根本,又是立足社會的基礎,孩子成長的過程也是學習做人的過程,可以說誠信是孩子成長過程中不可或缺的心修課”.
Phiên
âm:

Lập
túc xã hội đích cơ sở, hài tử thành trưởng đích quá trình dã thị học tập tố
nhân đích quá trình, khả dĩ tuyết thành tín thị hài tử thành trưởng quá trình
trung bất khả hoặc khuyết đich “tâm tu quả”.
Lời hay ý đẹp :

          Người ta có thể tự dối mình, nhưng tuyệt đối
không được lừa người. Một ý niệm dù nhỉ nhặt đến đâu cũng có ngày bị người ta
nhìn thấu. Thành tín là điều gộc rễ để làm người, lại là cơ sở để sống trong xã
hội. Quá trình trưởng thành của trẻ nhỏ cũng giống như quá trình học hỏi để làm
người. Có thể nói “thành tín” là môn học bắt buộc không thể thiếu sót trong quá
trình trưởng thành của đứa trẻ.
 31.立志于道,        猶人圣城.

子曰:“志于道夫志者,心之用也,性旡不善,故心旡不正.而其用則有正不正之分,此不可不察也,夫子以天縱之圣,犹必十五而志于學,蓋志為進德之基,昔圣昔賢莫不發軔乎此,志之所趋旡遠弗屆;志之所向,旡圣不入.志旡道,則義理為之主,而物欲不能移,由是而据于德,而依于仁,而游于艺,自不失其先后之序,輕重之伦,本末兼該,內外交養涵泳從容,不自知其人于圣賢之域矣.
Phiên
âm: 
       Lập chí vu đạo,           do nhân thánh thành.

          Tử viết : “Chí vu đạo”phù chí giả,
tâm chi dụng gỉả. Tính vô bất thiện, cố tâm vô bất chính. Nhi kỳ dụng tắc hữu
chính bất chính chi phân, thử bất khả bất sát dã, phu tử dĩ thiên túng chi
thánh, do tất thập ngũ nhi chí vu học, cái chí vi tiến đức chi cơ, tích thánh
tích hiền mạc bất phát nhẫn hồ thử, chí chi sở xu vô viễn phất giới; chí chi sở
hướng, vô thánh bất nhập. Chí vô đạo, tắc nghĩa lý vi chi chủ, nhi vật dục bất
năng di, do thị nhi cứ vu đức, nhi y vu nhân, nhi du vu nghệ, tự bất thất kỳ
tiên hậu chi tự, khinh trọng chi luân, bản mạt kiêm cai, nội ngoại giao dưỡng
hàm vịnh tòng dung, bất tự tri kỳ nhân vu thánh hiền chi thành hĩ.

 Dịch nghĩa:
           
Quyết chí học đạo,       gốc
thành thánh hiền.

      Khổng tử nói: “Lập chí vu học đạo”. Chí ở
đây là chí hướng dụng tâm. Bản tính con người vốn lương thiện, tấm lòng con người
vốn ngay thẳng. Nhưng tấm lòng con người đem ra xử thế lại có sự cách ngăn giữa
chính với bất chính, điều này thật rõ ràng. Khổng Tử sinh ra đã có tài năng trời
phú. Nhưng đến 15 tuổi, ông mới bắt đầu có chí học hành. Vì thế “chí” là cơ sở
để nuôi dưỡng đạo đức cao thượng. Các vị thánh hiền trước kia đều bắt đầu từ
đó. Một khi đã có chí hướng thì mục tiêu cao vời đến đâu cũng có thể thực hiện
được, khó khăn đến mấy cũng có thể vượt qua. Nếu một người lập chí theo con dường
đúng đắn, thì anh ta sẽ lấy nghĩa lý làm gốc, mà không bị vật chất dục vọng lay
động. Từ đó cho thấy chí hướng của một người là lấy đức làm gốc và lấy nhân để
nâng cao, lại thêm rèn luyện học thuật tốt thì ắt sẽ không nhầm lẫn thứ tự chủ
thứ, nặng nhẹ, nhanh chậm, quan trọng hay không quan trọng, đều có thể nhìn rõ
mà làm. Nội tâm và thể chất đều có thể được rèn luyện, thong thả nghiên cứu đạo
lý đời người mà dần dần ngang hàng các bậc thánh hiền lúc nào không hay.   

黃金法則:

每一位父母都要指導,孩子樹立志向,并向着志向不斷努力.這样不仅够帮助孩子取得事業上的成功.而且還可以培養孩子的高尚道德情操.

Phiên
âm:

 Mỗi nhất vị
phị mẫu đô yếu chỉ đạo , hài tử thụ lập chí hứơng, bính hướng trước chí hướng bất
đoạn nỗ lực. Giá dạng bất cẩn cú bang trợ hài tử thủ đắc sự nghiệp thượng đích
thành công. Nhi thả hoàn khả dĩ bồi dưỡng hài tử đích cao thượng đạo đức tình
thao.

Dịch
nghĩa:
Lời hay ý đẹp :

       Các bậc cha mẹ phải luôn luôn chỉ dẫn
cho con em mình xây dựng chí hướng, đồng thời không ngừng nỗ lực phấn đấu. Như
thế không những có thể giúp đỡ con trẻ đạt được thành công trong sự nghiệp mà
còn có thể nuôi dưỡng phẩm cách đạo đức cao thượng cho chúng.

              
32. 赤子之心,         人之真性.

孟子云:“大人者,不失其亦子之心者.”亦子之心者乃人之真性,即上古之渟朴處也.我朝滿洲制度,看來雖以鄙聘其一种真城處又豈易哉!我等讀書宜達書中之理,窮究古人立言之意也.



Phiên âm :
        Xích tử
chi tâm,        nhân chi chân tính.

      
Mạnh tử vân: “ Đại nhân giả, bất thất kỳ xích tử chi tâm giả.” Xích tử
chi tâm giả nãi nhân chi chân tính, tức thượng cổ chi phỉ phác xứ dã. Ngã triều
Mãn Châu chế độ, khán lai tuy dĩ bỉ sính kỳ nhất chủng chân thành xứ hựu khải dị
tai ! Ngã đẳng độc
thư nghi đạt thư trung chi lí, cùng cứu
cổ nhân lập ngôn chi ý dã .

Dịch nghĩa :
                   Trẻ sơ
sinh,          bản tính thật con người.

      
Mạnh tử nói : “ Những người đạo đức cao thượng sẽ không bao giờ đánh mất đi thiên tính
trong sáng thuần khiết như trẻ sơ sinh” . Trong sáng thuần khiết như trẻ sơ
sinh chính là bản tính con người, cũng là chỗ thuần phác đáng quí của cổ nhân.
Chuẩn mực đạo đức của nhà Đại Thanh Mãn Châu chính là như vậy.
Phong tục tập quán lâu đời của dân tộc Mãn Châu, nhìn bề ngoài có vẻ dung tục,
nhưng sự thuần phác mộc mạc trong đó thì lại khôn dể có được. Chúng
ta đọc sách, học hành nên hiểu rõ đạo lý trong sách, chăm chỉ tìm
tòi những ý nghĩa chân thực đúng đắn trong các tác phẩm của cổ
nhân.

黃金法則:

在這个紛繁复杂的社會里,每个人都應保持粹真和淳朴,于万不要迷失了自己.

Phiên âm :

        Tại giá cá phân phồn phức tạp đích xã hội lý, mỗi cá
nhân đô ứng bảo trì túy chân hòa thuần phác, vu vạn bất yếu mê thất liễu tự kỷ.

 Dịch
nghĩa :
Lời hay ý đẹp :

Trong xã hội phức tạp và rối rắm này, mỗi người phải giữ cái tâm
thẳng thắn thuần phác.
Nhất định đừng để đánh mất mình.

            33. 修身治性,        謹于平日.

凡人修身治性,皆當謹于素日.朕于六月大暑之時,不用扇,不除冠,此皆平日,不自放縱而能者也.
Phiên âm :
         Tu thân trị tính ,           cẩn vu bình nhật.

    
Phàm nhân tu thân trị tính,
gia đương cẩn vu tố nhật. Trẫm vu lục nguyệt đại thử chi thời, bất
dụng phiến, bất trừ quan, thử giai bình nhật, bất tự phóng túng nhi
năng giả dã. 

 Tu thân
dưỡng tính ,    phải từ việc nhỏ hàng ngày.

     Con
người ta muốn tu thân dưỡng tính, thì phải bắt đầu từ những việc
làm nhỏ hàng ngày. Tháng 6, trời nắng như đổ lửa, trẫm không dùng
quạt, không động đến mũ nón, ngày thường, ta đã nghiêm khắc đòi hỏi
chính mình, không tự buông lỏng bản thân nên mới làm được những việc
ấy .

Dịch nghĩa :
Lời hay ý đẹp :

      
Trong khi tu thân dưỡng tính
thì không được buông lỏng bản thân, đó là kỷ luật nghiêm khắc nhất, bở
vì trong mỗi con người chúng ta luôn tranh đấu giữa cảm tính và lý
trí.

              34.言而有信,         為人守秘.

朕決不欺人.即如今凡匠役人等,名有宓傳技蓺,決不肯告人.而朕問之,彼若開誠明奏,
必宓之,不告一人也
.
Phiên âm :

               
Tín nhi hữu tín,     vi nhân
thủ bí.

        
Trẫm quyết bất khi nhân.Tức như kim phàm tượng dịch nhân đẳng,
danh hữu mật truyền chi nghệ, quyết bất khẳng cáo nhân. Nhi trẫm vấn
chi, bỉ nhược khai thành minh tấu, tất mật chi, bất cáo nhất nhân dã.

Dịch nghĩa :
            
Giữ
tín lời nói,        giữ kín cho
người.

       
Trẫm tuyệt đối không bao giờ lừa dối người khác. Giống như bây
giờ những người thợ mộc có tay nghề giỏi, họ có những kỹ nghệ chỉ
truyền cho nhau một cách bí mật, không nói cho người khác biết. Nhưng
nếu ta hỏi họ, nếu họ đồng ý nói cho ta biết thì nhất định ta sẽ
giữ bí mật cho họ, quyết không nói cho ai hay.   

黃金法則:
信用是為人的根本,不講信用,難以在社會二立足.
Phiên âm :

Tín dụng thị vi nhân đích
căn bản, bất giảng tín dụng nan dĩ tại xã hội nhị lập túc.
Dịch
nghĩa :
Lời hay ý đẹp :

Giữ chữ tín là cái gốc để làm người, nếu không thì không đứng
vững trong xã hội .


                35. 以義為,          義安則利

程子云:“所為利者,不獨財利之利,凡有利心便不可,如作一事但尋自己穩.便處皆利心也.圣人以義為利,義安處便是利.凡人惟棄利几之心,以求義之所安,則為忠臣者亦此道,為孝子者亦此道”人人皆當以此言為至教而奉行之也.
Phiên âm :

    Trình
Tử vân: “ Sở vi lợi giả, bất độc tài lợi chi lợi, phàm hữu lợi tâm
tiện bất khả, như tác nhất sự đản tự tầm tự kỷ ổn. Tiện xứ giai
lợi tâm dã. Thánh nhân dĩ nghĩa vị lợi, nghĩa an xứ tiện thị lợi.
Phàm nhân  duy khí lợi kỷ chi tâm,
dĩ cầu nghĩa chi sở an, tắc vi trung thần giả diệc thử đạo, vi giáo
tử giả diệc thử đạo”, nhân nhân giai đương dĩ thử ngôn vi chí giáo nhi
phụng hành chi dã .

Dịch
nghĩa :

       Trình tử nói: “ Cái gọi là  “lợi”không chỉ có nghĩa là cái lợi
tiền tài, nếu có lòng hám lợi là không tốt. Ví dụ làm một việc
gì đó mà chỉ tìm cho mình những chỗ dễ dàng không khó khăn trở
ngại mà làm thì gọi là tính tư lợi. Thánh nhân lấy “nghĩa” làm
“lợi”. Nơi nào có “nghĩa” ấy là “lợi”. Một người chỉ cần vứt bỏ tư
lợi, mà tìm đến nơi nào có chữ “nghĩa” thì làm trung thần, làm
hiếu tử, cũng chỉ có con đường như thế .Mọi người nên lấy câu này
làm bài học tốt cho mình và bắt tay vào thực hiện .
黃金法則:

做一件事之前先替別人打算,然后再替自己打算.
Phiên âm:
Tố nhất kiện sự chi tieenftieen thế biệt
nhân tả toán, nhiên hậu tái thế tự kỉ tả toán .

 Dịch nghĩa :
 Lời hay ý đẹp :

        Trước khi làm bất cứ việc gì cũng nên
suy
tính thay cho người khác trước, rồi
sau đó mới suy tính cho mình.

          36.   治心之要,        首在克己.

順治元年五月己亥,諭內阁:前任太常寺少卿李棠階奏条陳時務一折.据稱:用人行政,先在治心;治心之要,先在克己.請于師傳匡弼之余,豫杜左右近習之漸,并于暇時講解御批通鋻輯覽大學衍義,等書,以收格物意誠之效.

Phiên
âm :
              Trị tâm chi yếu ,      thủ tại khắc kỷ.

      Thuận Trị nguyên niên ngũ nguyệt Kỷ
Hợi, dụ nội các: Tiền nhiệm thái thường tự Thiếu Khanh Lý Đường Giai tấu điều
trần thời vụ nhất chiết . Cứ xưng: dụng nhân hành chính, tiên tại trị tâm, trị
tâm chi yếu, tiên tại khắc kỷ . Thỉnh vu sư truyền khuông bật chi dư, dự đỗ tả hữu cận tập chi tiệm, tịnh vu hạ thời giảng giải
“ ngự phê thông giám tập lãm”cập “đại học diễn
nghĩa”, đẳng thư, dĩ thâu cách vật ý thành
chi hiệu .

Dịch nghĩa :
     
 Quyết yếu trị người,         giữ mình trước hết .   

      
Ngày Kỷ Hợi, tháng năm, năm đủ , Thuận Trị
thông báo nội các : Thiếu Khanh Lý Đương Giai tiền
nhiệm Thái Thường tự đệ trình bản tấu về cách nhìn
thời thế ngày nay. Cách nhìn của ông ta là : “Dùng người trước hết phải tri tâm
người đó, mà mấu chốt của việc tri tâm
đầu tiên phải thúc ép, bó buộc
chính mình. Đồng thời mong rằng khi được bậc thầy giúp đỡ,
daỵ dỗ bản thân sẽ ngăn chặn triệt đđược những ảnh
hưởng xấu của những người thân cận xung quanh, tranh thủ lúc nhàn rỗi mà giảng
giải cuốn “ Ngự phê thông giám tập lãm” với “Đại
học diễn nghĩa”v …v… Áp dụng được những điều này là có thể đạt
được cái hiệu quả suy đoán nghiên cứu nguyên lý sự vật và những suy nghĩ
ngay thẳng một cách đúngđắn
.

黃金法則:
嚴格要求自己,洁身自愛.內省慎微及時潑現和改正自己的措誤.嚴于律己.才能正身居敬.
Phiên âm:
Nghiêm cách yêu cầu tự kỷ, hoạt than tự ái. Nội tỉnh
thận vi cập thời phát hiện hòa cải chính tự kỉ đích thác ngộ. Nghiêm vu luật kỉ.Tài
năng chính than cư kính.
Dch nghĩa :
Lời hay ý đẹp :

        Cần
phải nghiêm khắc với bản thân, tự mình trong sạch, rèn tính cẩn thận, kịp thời
phát hiện và sửa sai. Nghêm chỉnh tuân theo kỷ luật mới có thể làm cho mình
được kính nể.

   37.    善喜善念,        去惡去凶.                                                                                                                                                                                 
                          凡人處世,惟當常尋歡喜.歡喜處自有一番吉祥景象,蓋喜則動善念,怒則動惡念.是故古語云:“人生一善念,善虽未為,而古神已隨之;人生一惡念,惡虽未為,而凶神已隨之”.此誠至理也.

Phiên
âm :
              Thiện hỉ thiện niệm,         khứ
ác khứ hung.

      Phàm nhân xử thế, duy đương
tầm hoan hỷ. Hoan hỷ xử tự hữu nhất phiên cát tường cảnh tượng, cái hỷ tắc động thiện niệm, nộ tắc động
ác niệm .Thị cố cổ ngữ vân: “Nhân sinh nhất
thiện niệm, thiện tuy vị vi , nhi cổ thần dĩ tùy chi ; nhân sinh nhất ác
niệm, ác tuy vị vi, nhi hung
thần dĩ tùy chi” . Thử thành chí lý dã.

Dịch
nghĩa :

Muốn vui muốn thiên,         phải bỏ ác trừ hung.

       Con người ta sống ở trên đời,
nên giữ cho mình cái tâm trạng vui vẻ. Tâm
trạng vui vẻ là một đức tính tốt đẹp. Nếu trong lòng tràn ngập niềm vui thì
những ý nghĩ tốt đẹp, lương thiện sẽ được sinh ra. Trong lòng đầy những nỗi tức giận,
tất sẽ có những ý nghĩ hung hiểm
ác độc.
Cho nên cổ nhân nói: “ Một người chỉ cần sinh ra một ý niệm tốt,
thì dù
chưa thực hiện nó, thần may mắn sẽ đến với anh ta. Nếu sinh ra một ác niệm thì dù chưa làm điều
ác thì hung thần đã đến làm bạn với anh ta rồi”. Lời nói
này quả là danh ngôn chí lý.
黃金法則:

父母要積极培養孩子觀愛他人的習慣,鼓動尊重孩子去觀愛他人.一个怀有善念的人,才能得到更多人的觀愛,才能获得更多的机會, 才能取得更多的成功.
Phiên
âm :

         Phụ
mẫu yêu tích cực bồi dưỡng hài tử quan ái tha nhân đích tập quán, cổ động, tôn
trọng hài tử quan ái tha nhân. Nhất cá hoài hữu thiện niệm đích nhân, tài năng
đắc đáo cánh đa nhân đích quan ái, tài năng hoạch đắc cánh đa đích cơ hội,
tài năng thủ đắc đa đích thành công.

Dch nghĩa:
Lời hay ý đẹp :

        Cha
mẹ cần tích cực nuôi dưỡng thói quen quan tâm thương yêu mọi người cho con cái.
Cổ vũ và tôn trọng khi chúng yêu thương, quan tâm đến mọi người. Con người lương
thiện mới nhận được nhiều sự quan tâm chăm sóc hơn, mới có được nhiều cơ hội
hơn, mới đạt được thành công nhiều hơn,
.
_
            38. 心存善念,             天報福祿.

凡人存善念,天必綏之福祿以善報之.今人日持珠敬佛,欲行善之故也.苟堊念不除,即持念珠,何益?

Phiên âm:

        Tâm tồn thiện
niệm,          thiên báo phúc lộc .

     Phàm nhân tồn thiện niệm, thiên tất tuy chi
phúc lộc dĩ thiện báo chi. Kim nhân nhật trì châu kính phật, dục hành thiện chi
cố dã. Cẩu ác niệm bất trừ, tức trì niệm châu, hà ích ?

Dịch
nghĩa :
         
              
Thiện ý tại tâm,        trời cho phúc lộc.

        Con người ta, nếu trong lòng tồn tại những ý nghĩ lương
thiện, bẩm sinh
đã có lòng hiếu. Bấy giờ,
người ta tay lần tràng hạt thờ phụng tượng phật, cũng là nguyên nhân khiến họ
muốn làm việc thiện. Nhưng nếu họ không từ bỏ những ý nghĩ ác trong lòng, thì
tay lần tràng hạt, miệng tụng kinh niệm phật, phỏng có ích gì?

   黃金法則:

教育子女想問題,刃事情,或者与人交往中,都要一种良好的与人為善的心境.這个是种高尚的修養和体現人道主義精神的道德品質.孩子們一旦樹立了与人為善的优良品格,對于他 一生的心理,事業,身体都有十分重要的意義.

Phiên âm:
      Giáo dục tử nữ tưởng vấn đề, nhẫn sự tình,
hoặc giả dữ nhân giao vãng trung, đô yếu nhất chủng lương hảo đích dữ nhân vi
thiện đích tâm cảnh. Giá cá thị chủng cao thượng đích tu dưỡng
hòa thể hiện nhân đạo chủ nghĩa
tinh thần đích đạo đức phẩm chất. Hài tử môn nhất đán thụ lập liễu dữ nhân vi
thiện đích ưu lương phẩm cách, đối vu tha nhất sinh đích tâm lý, sự nghiệp,
thân thể đô hữu thập phân trọng yếu đích ý nghĩa
Dịch nghĩa:
Lời hay ý đẹp :
                   
     Giáo dục con cái, suy nghĩ vấn đề, giải quyết
công việc hay giao tiếp với người ngoài, đều phải dạy chúng luôn có một tấm
lòng thiện để làm việc thiện cho người khác. Đây là một cách tu dưỡng cao thượng
và thể hiện phẩm chất của một con người có tinh thần nhân đạo chủ nghĩa .Trẻ nhỏ
xây dựng được phẩm cách tốt đẹp, luôn làm điều thiện cho người khác có ý nghĩa
quan trọng đối với tâm lý sự nghiệp thân thể một đời của chúng.

                    39. 俯仰旡愧,        存乎一心.
    人惟一心,起為念慮.念慮之正与不正,只在頃刻之間.若一念不正,頃刻而知之,即从而正之,自不至离道之遠.“:“惟圣罔念則狂,惟狂克念作圣.”一念之溦,靜以存之動則察之,必使俯仰旡愧,方寔在功夫.是故古人治心,防于念之初生,情之未起所以用力甚微而收功甚巨也.

Phiên âm :

               Ngưỡng
phủ vô quí,       tồn hồ nhất tâm
.

        
Nhân duy nhất tâm, khởi vi niệm lự.
Niệm lự chi chính dữ bất chính, chỉ tại khoảnh khác khắc chi gian. Nhược nhất
niệm bất chính, khoảnh khắc nhi tri chi, tức tòng nhi chính chi, tự bất chí ly
đạo chi viễn. “Thư” viết: “ Duy thánh võng niệm tắc cuồng, duy cuồng khắc niệm
tác thánh”. Nhất niệm chi vi, tĩnh dĩ tồn chi động tắc sát chi, tất sử phủ ngưỡng
vô quí, phòng thực tại công phu. Thị cố cổ nhân trị tâm, phòng vu niệm chi sơ
sinh, tình chi vị khởi sở dĩ dụng lực, thậm nhi vi thu công thậm cự dã.

Dịch nghĩa :
                        Ngẩng
lên cúi xuống,
             không hổ thẹn mới xứng lòng mình.

       
Trong lòng mỗi người, đều phát sinh đủ loại ý nghĩ. Những loại ý nghĩ
đó, đúng đắn hay không đúng đắn, chỉ là trong thời gian phút chốc. Một ý nghĩ
không đúng đắn, nếu mau chóng phát hiện và được uốn nắn, sửa chữa kịp thời thì sẽ
không đến nỗi đi lạc con đường chính đạo. Sách “Thượng thư” có viết: “ Dù là bậc
thánh nhân, nếu không có suy nghĩ lương thiện thì sẽ có thể biến thành kẻ ngông
cuồng. Dù là kẻ ngông cuông, nếu trong đầu có suy nghĩ lương thiện thì hắn cũng
có thể trở thành bậc thánh hiền”. Một suy nghĩ nhỏ nhoi tồn tại trong trạng
thái bình lặng của hành động của người ta có thể xem xét theo dõi được. Ngẩng
lên nhìn trời, cúi xuống trông đất, nếu không thấy tự thẹn với lòng mình thì mới
thực sự là suy nghĩ đúng đắn. Vì thế cổ nhân rèn luyện tâm tính phòng những lúc
suy nghĩ bộc phát mà tình cảm còn chưa phát sinh, bởi vì lúc này không cần bỏ
nhiều công sức là đã có thể đạt được hiệu quả lớn lao. 

黃金法則:

善念是人生中最寶貴的才富,是人性中最美麗最溫暖的一缕阳光.心存善念是一个人修身養性的核心內容,必修在幼年時期細心培養.

Phiên âm:

     Thiện tâm thị nhân sinh trung tối bảo quí đích
tài phú, thị nhân tính trung tối mỹ lệ tối ơn noãn đích nhất lũ dương quang.Tâm
tồn thượng niệm thị nhất cá nhân tu thân dưỡng tính đích hạch tâm nội dung, tất
tu tại ấu niên thời kỳ tế tâm bồi dưỡng.
 Dịch nghĩa
Lời hay ý đẹp :

      Những ý nghĩa lương thiện là tài sản quí
báu nhất của đời người, là ánh sáng ấm áp tươi đẹp nhất rọi vào lương tri con
người. Trong lòng luôn tồn tại những ý nghĩ lưng thiện, đó chính là nội dung cốt
lõi trong việc tu thân dưỡng tính của một người, phải trau dồi từ lúc còn nhỏ
.

             40.一念之微,          天理人欲.

人心一念之微,不在天理,便在人欲,是故心存私便是放,不必逐物馳鶩然后為放也.心一放便是私,不待縱情肆欲然后為私也.惟心不為耳目口鼻所役,始得泰然,故孟子曰:“耳目之官不思而蔽于物,物交物則引之而已矣,心之官則思,思則得之,不思則不得也,此天之所以与我者.先立乎其大者,則其小者,不能奪也.此為大人而已矣.”

Phiên âm :

          Nhất niệm
chi vi,          thiên lý nhân dục.

     
Nhân tâm nhất niệm chi vi, bất tại thiên lý, tiện tại nhân dục, thị cố
tâm tồn tư tiện thị phóng, bất tất trục vật trì vụ nhiên hậu vi phóng dã. Tâm
nhất phòng tiện thị tư, bất đãi túng tình tứ dục nhiên hậu vi tư dã. Duy tâm bất
vị nhĩ mục khẩu tị sở dịch, thủy đắc thái nhiên, cố Mạnh Tử viết: “Nhĩ mục chi
quan bất tư nhi tế vu vật, vật giao vật, tắc dẫn chi nhi dĩ hĩ, tâm chi quan tắc
tư, tư tắc đắc chi, bất tư tắc bất đắc dã, thử thiên chi sở dĩ dữ ngã giả. Tiên
lập hồ kỳ đại giả, tắc kỳ tiểu giả, bất năng đoạt dã . Thử vị đại nhân nhi dĩ
hĩ.

Dịch nghĩa:
                Một ý nghĩ nhỏ,        đạo lý trời cho. 

     
Khi con  người nảy sinh ra một ý
nghĩ nhỏ nhoi trong đầu, nếu không phải là ngẫm nghĩ đạo lý đời người, thì
cũng là nghĩ đến tư dục ham muốn cá nhân
cho riêng mình. Thế mới nói trong lòng ẩn chứa tư dục chính là buông lỏng chính
mình chứ không hẳn chỉ có theo đuổi sự hưởng thụ vật chất thì mới gọi là buông
lỏng. Tư tưởng suy nghĩ lơi lỏng một chút thôi ấy chính là tư dục chứ không phải là ham muốn rồi mới gọi là tư dục
. Cho nên Mạnh Tử nói: “ Những thứ mà cái tai, con mắt, và những thứ giác quan
khác trông thấy, nghe thấy, ngửi thấy …nếu không suy nghĩ thêm thì sẽ bị ngoại
vật làm cho mờ mắt, bởi tai, mắt vừa mới tiếp xúc với ngoại vật liền bị thu hút
đến độ không tự chủ được. Bộ não là dùng để suy nghĩ, có suy nghĩ thì mới phát
huy được những công năng mà trời phú cho chúng ta .Đầu tiên xây dựng lên chí hướng
lớn thì những tư dục nhỏ nhặt sẽ không chiếm cứ được địa vị chủ động của tâm
linh . Cứ như thế là có thể trở thành người cao thượng rồi.
黃金法則:

每有志气的人必將一事旡成.

`Phiên âm:
Mỗi hữu chí khí đích nhân
tất tướng nhất sự vô thành.

Dịch nghĩa;
Lời hay ý đẹp :

 Những người không có chí khí thì ắt sẽ chẳng
làm được việc gì.


               41.天變灾异,        深自儆省.

朕自幼登极,迄今六十余年,偶遇地震水旱必深自儆省,故灾變即時消灭.大凡天變灾异,不必惊惶失措,惟反躬自省,忏悔改過,自然轉禍成福.“:“惠迪吉,從逆凶,惟影晌.”固理之必然也.
Phiên âm:

             Thiên biến tai dị ,       thâm tự cảnh tỉnh.

        Trẫm tự ấu đăng cực, hất kim lục thập
dư niên, ngẫu ngộ địa chấn thủy hạn tất thâm tự cảnh tỉnh, cố tai song tức thời
tiêu diệt. Đại phàm thiên biến tai dị, bất tất kinh hoàng thất thố, tuy phản
cung tự tỉnh, thiên hồi cải quá, tự nhiên chuyển họa thành phúc. “Thư” vân: “
Huệ dịch cát, tòng nghịch hung, duy ảnh hưởng”. Cố lý chi tất nhiên dã.

Dịch
nghĩa:
         Tai ương thiên họa,       tự
mình cảnh tỉnh.
        Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, đã hơn 60
năm, trong thời gian đó có lúc gặp phải tai ương như động đất, bão lụt. Tự bản
thân ta phải suy ngẫm lại, cứ như thế mọi tai họa mau chóng được đẩy lùi. Nếu xảy
ra một hiểm họa nào đó không được sợ hãi lung túng, chỉ cần bình tĩnh, cúi đầu
suy ngẫm, sửa lại lỗi sai nhất định sẽ chuyển họa thành phúc. Sách “Thương thư”
có viết : “ Điều may mắn khi đi trên con đường chính đạo với sự nguy hiểm khi
đi trên con đường nghịch đạo là như hình với bóng” đây là điều đương nhiên.    

黃金法則:

反省,能讓一个人明白自己做了哪什么取得了哪些成績,犯了哪些措誤.在反省的同時,積极總結經驗,吸取教訓,反省方法對一个人的成長至觀重要.

 Phiên
âm
:
          Phản tỉnh, năng nhượng nhất cá nhân minh bạch
tự kỷ tố liễu na thập ma thủ đắc liễu na ta thành tích, phạm liễu na ta thố
ngộ. Tại phản tỉnh đích đồng thời, tích cực tổng kết kinh nghiệm, hấp thủ giáo
huấn, phản tỉnh phương pháp đối nhất cá nhân đích thành trưởng chí quan trọng
yếu .

Dịch
nghĩa:
Lời hay ý đẹp :
       Tự suy ngẫm lại có thể m cho người ta sáng tỏ điều mình đã làm, đạt được những thành công
gì, mắc phải những lỗi sai nào. Song song với việc tự suy ngẫm là tích cực tổng
kết kinh nghiệm, tiếp nhận lời dạy bảo, phương pháp này có ảnh hưởng cực kỳ
quan trọng đối với sự trưởng thành của một người.

                 42.虛名旡益,        有寔則名.
       程子云:“有寔則有名,名寔一物也,若夫好名者,則徇名為虛矣,君子疾沒世而名不,謂旡善可称耳,非徇名也.看來有一等好名之人,惟名是務,不著一毫誠寔之處,只管行法,不惟旡分毫之寔,究至于名亦不能保.” 程子此言,可為力行之要道也

Phiên âm:
              Hư danh vô ích ,            hữu thức tắc danh.

       Trình Tử vân: “Hữu thực tắc hữu danh,
danh thực nhất vật dã, nhược phu háo danh giả, tắc tuần danh vị hư hĩ, như  “quân tử tật một thế nhi danh bất”,vị vô thiện
khả xưng nhĩ, phi tuần danh dã. Khán lai hữu nhất đẳng háo danh chi nhân, duy
danh thị vụ, bất trước nhất hào thàn thực chi xứ, chỉ quản hành pháp, bất duy
vô phận hào chi thực, cứu chi vu danh diệc bất năng bảo”. Trình Tử thử ngôn, khả
vị lực hành ci yếu đạo dã . 

Dịch nghĩa:
           
danh vô ích ,          có thực ắt có danh.

     
 Trình Tử nói: “Con người nếu tực
sự làm được việc tốt thì sẽ có tiếng thơm, tiếng tăm và hành động thực chất là
một. Còn những kẻ hám danh, những kẻ bỏ mặc tất cả truy cầu hư danh kết quả là
túi rỗng xách về. Giống như những lời Khổng Tử nói: “Đến chết mà không được người
đời ca tụng, người quân tử lấy cái đó làm nỗi hận trong lòng” là ý muốn nói rằng:
do không có phẩm đức tốt đẹp mà không được người ta ca tụng là điều đáng tiếc
nuối của một đời quân tử. Có một loại người vô cùng coi trọng tiếng tăm, coi tiếng
tăm quan trọng hơn bất cứ thứ gì trên đời, nhưng lại không chịu bỏ một chút
công sức vào những hành động thực tế. Kết quả là chẳng những không làm được việc
gì hay ho mà thậm chí đến tiếng tăm vốn có cũng mất tiêu luôn”. Những lời này của
Trình Tử nói rõ tính quan trọng của việc coi trọng thực tiễn.
 
黃金法則:

淡泊名利,并不是不思進取碌碌旡為,而是以一颗平常的心釆,泰然面對人生.
Phiên âm:
     
Đạm bạc danh lợi, tịnh bất thị bất tư tiến thủ
lục lục vô vi, nhi thị dĩ nhất khóa bình thường đích tâm thái, thái nhiên diện
đối nhân sinh.

Dịch nghĩa;
Lời hay ý đẹp :

            Thơ ơ với danh lợi,
không có nghĩa là không lo phấn đâu vươn lên, thong thả vô vi, mà là ung dung
bình tĩnh đối mặt với cuộc đời bằng một trái tim bình lặng.

             43.涊耐一時,           便覺旡事.  
                                  天下未有過不去之事,涊耐一時,便覺旡事,即如鄉覺鄰里間每以雞犬等纇些微之事,致起訟端,經官告理;或因一語戲謔,以致角口爭鬥.此皆由不能因一時之小忿而成爭訟之大端也.孔子曰:“小不忍則亂大謀”.圣人之言,至理存焉.

                Phiên âm :
                                            Nhẫn nại nhất thời,         tiện giác vô sự .

        Thiên hạ vị hữu
quá bất khứ chi sự, nhẫn nại nhất thời, tiện giác vô sự, tức như hương giác lân
lý gian mỗi dĩ kê khuyển đẳng loại ta vi chi sự, chí khởi tụng đoan, kinh quan
cáo lý; hoặc nhân nhất ngữ hí hước, dĩ chí giác khẩu tranh đấu. Thử giai do bất
năng nhân nhất thời chi tiểu phẫn nhi thành tranh tụng chi đại đoan dã. Khổng Tử
viết: “ Tiểu bất nhẫn tắc loạn đại mưu” Thánh nhân, chí lý tồn yên .

Dịch nghĩa:  
                                              Nhẫn nhịn một
thời,          mọi điều vô sự
.
                            
Trên đời này, không có điều gì là không chịu
đựng được cả. Chỉ  cần nhẫn nại nhất thời,
mọi sự tức khắc sẽ được dẹp yên. Giống như hàng xóm láng giềng với nhau, thường
thì mấy chuyện con gà, cọng hành nhỏ nhặt mà lôi nhau đến cửa quan kiện tụng.
Hay vì một câu nói bông đùa mà đến nõi phải cãi cọ ầm ĩ, thậm chí cò gây ra xô
sát đánh nhau.Tất cả đều do không nhẫn nại nhất thời mà tức giận, ủ thành cái hậu
quả có dính líu tới chốn công đường. Khổng Tử nói “Việc nhỏ mà không nhẫn nhịn
nổi thì sẽ càng hao phí sức lực”. Lời nói của họ Khổng thật chí lí vô cùng .
黃金法則:
小不忍則亂大謀生活在世上,要想成就一番事業,誰都難免經愛一段忍辱负重的曲折經历.

Phiên âm :
Tiểu
bất nhẫn tắc loạn đại mưu” sinh hoạt tại thế thượng, yếu tưởng       thanh tựu nhất phiên sự nghiệp, thùy đô
nan miễn kinh ái nhất đoạn nhẫn nhục bối trọng đích khúc chiết kinh lịch.

Dịch
nghĩa: 
    Lời hay ý đẹp :

  “Chuyện nhỏ không nhịn, tất hỏng chuyện
lớn”. Sống ở trên đời này, không ai là không gặp phải những chuyện rắc rối, phức
tạp này no. Những lúc như thế này, nếu muốn sự nghiệp thành công, cần phải biết
nhẫn nại, chịu đưng.

                44.  恆勞知逸,    
     自強不息.

世間皆好逸而惡勞,朕心則謂人恆勞而知逸.若安于逸則不惟不知逸.而遇勞即不能堪矣.故“易”云:“天行健,君子以自強不息.”由是觀之,
圣人以勞為福,以逸為禍也.



Phiên âm :

                   Hằng lao tri dật,       tự
cường bất tức .

      Thế
gian giai hỏa dật nhi ác lao, trẫm tâm tắc vị nhân hằng lao nhi tri dật. Nhược
an vu dật tắc bất duy bất tri dật. Nhi ngộ lao tức bất năng kham hĩ. Cố “Dịch”
vân: “Thiên hành kiến, quân tử dĩ tự cường bất tức”. Do thị quán chi, thánh
nhân dĩ lao vi phúc, dĩ dật vi họa dã.

Dịch nghĩa :
                                       Có lao động
mới có an nhàn,  
                                              phấn
đấu không nghỉ.

         
Ai cũng thích được an nhàn mà không chịu khó lao động, trẫm lại cho rằng
mỗi người chỉ có thường xuyên lao động mới có thể được hưởng thụ niềm an nhàn
đích thực. Nếu chỉ chăm chăm đòi hưởng an nhàn mà không bỏ công lao động vất vả
thì sẽ không hiểu nổi sự an nhàn đích thực là gì, mỗi khi gặp phải việc vất vả
cực nhọc thì đã cảm thấy không thể chịu đựng được rồi. Cho nên Kinh Dịch viết  : “ Vũ trụ luôn luôn vận động không bao giờ
ngừng nghỉ, người quân tử cũng nên giống như trời đất,không ngừng vươn lên,
không ngừng tự cường”. Từ đó ta thấy thánh nhân cũng coi lao động vất vả là điều
phúc  và coi sự an nhàn là nguyên nhân dẫn
đến tai họa .

黃金法則:

面對同樣一个問題,自強和自卑的人會得出截然不同的結論,以至于釆取完全不同的處理办法.作為父母要有意識地潜心培養孩子們自強不息的積极心理狀态.

Phiên âm :
       
               Diện đối đồng dạng nhất cá vấn đề,
tự cường hòa tự ti đích nhân hội đắc xuất tiệt
nhiên bất đồng đích kết luận, dĩ chí vu thái thủ hoàn toàn bất đồng đích xử lý
biện pháp. Tác vi phụ mẫu yếu ý thức địa tiềm tâm bồi dưỡng hài nhi môn tự cường
bất tức đích tích cực tâm lý trạng thái.

Dịch nghĩa :
Lời hay ý đẹp :

  Cùng gặp phải vấn đề như nhau, người tự cường
với người tự ti sẽ đưa ra những kết luận khác nhau một trời một vực và chọn lựa
áp dụng những cách xử lý tích cực này của trẻ : “luôn luôn tự cường”. 

              45. 近朱近墨,          其習相遠.

人之一生,多由習气而成.蓋自孩提以至十余歲,此數年間,渾然天理,知識未判,一學習業,則有近朱近墨之分.及至成人,士農工商,名隨其習,習以成風,虽父兄之于子弟,亦不能令其習好同也,故孔子曰:“性相近也,習相遠也”.有必然者.

Phiên
âm :
                    Cận chu cận mặc,       kỳ
tập tương viễn .
      Nhân chi nhất sinh, đa do tập khí nhi
thành. Cái tự hài đề dĩ chí thập dư tuế, thử số niên gian, hồn nhiên thiên lý,
trí thức vi phán, nhất học tập nghiệp, tắc hữu cận chu cận mặc chi phân. Cấp
chí thành nhân, sĩ nông công thương, danh tùy kỳ tập, tập dĩ thành phong. Tuy
phụ huynh chi vu tử đệ, diệc bất năng lệnh kỳ tập hảo đồng dã, cố Khổng Tử viết
: “ Tính tương cận dã, tập tương viễn dã”. Hữu tất nhiên giả .
 Dịch
nghĩa : 

      Gần mực thì
đen,             gần đèn thì sáng.

        Cả một đời người, bình thường đều là
thông qua học hành mà không ngừng nâng cao những tố chất vốn có của bản thân.
Trong khoảng thời gian từ lúc nhỏ đến lúc mười mấy tuổi, hoàn toàn là bản tính
cá nhân sẵn có, tri thức vẫn chưa khác biệt là bao, nhưng sau một quá trình học
tập thì đã có do người ta gần mực hay gần đèn. Đến tuổi trưởng thành, do phải
làm việc theo ngành nghề sĩ nông công thương khác nhau, theo việc học tập không
ngừng nghỉ mà hình thành nên một loại thói quen, dù là cha mẹ đối với con cái,
anh đối với em, cũng không thể ép buộc sở thích của họ tất phải giống y như
mình được. Cho nên Khổng Tử nói : “ Người ta mới sinh ra, thiên tính đều như
nhau cả , nhưng về sau do môi trường mỗi nơi một khác và chịu sự giáo dục cũng
khác nhau mà tính cách và thói quen mỗi người sẽ dần hình thành những khác biệt
to lớn”. Điều này quả là rất chính xác.
黃金法則:

要掌握教育孩子的方法,特別孩子在幼年時期,父母就應該留意他們的興趣与愛好,并有意識地進行培養,發揮他們的特長,不要讓他們沾染上惡劣的習慣.
Phiên âm:
       
         Yếu thường ác giáo dục hài tử đích phương
pháp, đặc biệt hài tử tại ấu niên thời kỳ, phụ mẫu tựu ứng cai lưu ý tha môn đích
hứng thú dữ ái hảo, tịnh hữu ý thức địa tiến
hành bồi dưỡng, phát huy tha môn đích biệt trưởng, bất yếu nhượng tha môn triêm
nhiễm thượng ác liệt đích tập quán.

Dịch nghĩa:
 Lời hay ý đẹp :

     Muốn nắm chắc phương pháp giáo dục con
cái, đặc biệt là đối với trẻ nhỏ trong thời kỳ ấu niên, cha mẹ nên lưu ý sở
thích và cảm hứng của chúng và có ý thức bắt tay vào việc nuôi dưỡng phát huy sở
trường của trẻ, không
để chúng tiêm
nhiễm nhưng thói hư tật xấu.

            46.  防為杜漸,         預其未萌.

凡理大小事務,皆當一体留心.古人所謂防為杜漸者,以事虽小而不防之,則必漸大;漸而不止,必至于不可杜也.
Phiên âm :

             Phòng vi đỗ
tiệm,        dự kỳ vị minh
.

           Phàm lý đại tiểu sự vụ , giai đương
nhất thể lưu tâm . Cổ nhân sở vị phòng vi đỗ
tiệm giả, dĩ sự tuy tiểu nhi bất phòng chi, tắc tất tiệm đại ; tiệm nhi bất chỉ
, tất chí vu bất khả đỗ dã .

Dịch nghĩa

     Phòng từ việc
bé,               khỏi xé ra to.

         Bất kỳ làm việc gì, dù nhỏ hay lớn đều
phải chú ý đến những gì nhỏ nhặt nhất. Cổ nhân thường hay nói: “Phòng vi đỗ tiệm”
tức là chỉ một sự việc rất nhỏ nhưng nếu không nhằm lúc nó mới phát sinh hay hé
lộ mâu thuẫn mà tăng cường đề phòng thì việc bé sẽ xé ra to, nếu lúc nó đã khuếch
đại lên rồi mà không chú ý ngăn chặn thì chắc chắn sẽ phát triển tới mức không
cách gì cứu vãn được .

黃金法則:
旡論是學習,還是干其他事情,父母要讓孩子學會在不良事物刚露头時就加以防止,杜絕其發展.

Phiên
âm:
          Vô luận thị học tập, hoàn thị can kỳ tha sự tình,
phụ mẫu nhượng hài tử học hội tại bất lượng sự vật cương lộ đầu thời tựu gia dĩ
phòng chỉ, đỗ tuyệt kỳ phát triển.

 Dịch nghĩa : 
Lời hay ý đẹp :

        Cho dù là học hành hay làm một việc
gì đó, cha mẹ đều phải dạy cho con cái biết phải đề phòng những việc không tốt
ngay từ khi nó mới hé lộ ra nhằm ngăn chặn triệt để hậu quả về sau.

              47. 天里之行,          始于足下.

凡人學蓺,即如百工學業,必始于易,而步步徇序漸進焉,心志不可及遽也.“中傭:“譬如行遠,必自迩;譬如登高,必自卑.”人之學蓺,亦當以此言為訓也.




Phiên âm :
                 Thiên lý chi hành ,        thủy vu túc hạ .

      Phàm nhân học nghệ, tức như bách công học
nghiệp, tất thủy vu dịch, nhi bộ bộ tuần tự tiệm tiến yên, tâm trí bất khả cập
cự dã. “Trung Dung” viết : “Thí như hành viễn, tất tự nhĩ; thí như đăng cao, tất
tự ti”. Nhân chi học, diệc đương dĩ thử ngôn vi huấn dã.

Dịch nghĩa
:  
         Muốn đi được xa,         phải tự bước đầu tiên.

      Người ta học các kỹ nghệ, giống như người
thợ trong mọi ngành học kỹ nghệ vậy. phải bắt đầu từ cái gốc rễ đơn giản nhất,
rồi sau đó mới từng bước, từng bước nâng cao, tuyệt đối không được cuống lên
đòi thành công luôn . Sách “Trung Dung” có viết : “ Ví dụ muốn đi xa thì nhất định
phải bắt đầu bước từ những nơi gần, ví dụ muốn leo lên núi cao, nhất định phải
bắt đầu từ chân núi”. Người ta học nghề, nên sáng tỏ đạo lý này .
  
黃金法則:

許多成工人士之,所以成工是因為他們能夠懂得并且按着從大處看眼,小處看手,去做事的原則.只要懈努力特之以恆即使每天所做的都是些平凡的小事,時間長了,付出的幸苦就會有所收获.

Phiên âm:
         Hứa đa thành công nhân sĩ chi, sở dĩ thành công
thị nhân vi tha môn năng cấu đổng đắc bính thả án trước tòng đại xứ khan nhãn,
tiểu xứ khan thủ, khứ tố sự đích nguyên tắc. Chỉ yếu giải nỗ lực đặc chi dĩ hằng
tức sử mỗi thiên sở tố đích đô thị tá bình đích tiểu sự, thời gian trường liễu,
phó xuất đích hạnh khổ tựu hội hữu sở thụ hoạch.

Dịch nghĩa
:  
Lời hay ý đẹp :

             Những người thành công,
sở dĩ họ thành công là vì họ có thể đồng thời tuân theo nguyên tắc nhìn thấy
cái mấu chốt rồi mới bắt tay vào làm việc . Chỉ cần không ngừng nỗ lực làm việc,
kiên gan bền chí cho dù những việc làm hàng ngày là nhỏ nhặt bình thường, qua một
thời gian dài, những công sức họ bỏ ra sẽ thu lại được những thành quả xứng

đáng.

             48. 深思熟慮,            旡憾旡悔.

凡人于事務之來,旡論大小,必审之又审方旡遺慮.孔子云:“不日如之何,如之何者吾未如之何也已矣”.誠至言也.

Phiên âm :
                  Thâm tư thục lự,         vô hám vô hối.

     Phàm nhân vu sự vụ chi lai, vô luận đại tiểu,
tất thẩm chi hựu thẩm phương vô di lự. Khổng Tử vân: “ Bất nhật như chi hà, như
chi hà giả ngô  vị như chi hà dã dĩ hĩ”. Thành
chí ngôn dã !

Dịch nghĩa
:  
               Suy nghĩ sâu,         sẽ  không hối tiếc.

           Người ta khi đụng phải
một việc gì đó, cho dù việc đó là lớn hay nhỏ cũng đều phải suy ngẫm đi suy ngẫm
lại kỹ lưỡng như thế mới có thể tránh để lại những hậu họa, cho nên Khổng Tử
nói: “ Những người khi gặp chuyện mà trước tiên không đặt ra những câu hỏi “làm
thế nào, làm ra sao” thì cuối cùng cũng phải nói với những việc anh ta làm rằng:
“Nên đem chuyện này giải quyết ra sao đây”! Quả là danh ngôn chí lý.

黃金法則:

人的天性差別很大有的孩子從小做事认真細致,不及不躁,也有的孩子總是毛手毛脚慌慌张张.這种性格特征如果得不到糾正成年以后仍然會表現出鲁莽,轻率, 浮躁的性格弱點.

Phiên âm:

         Nhân đích thiên tính soa biệt ngận đại
hữu đích hài tử tòng tiểu tố sự nhận chân tế chí, bất cập bất thao, dã hữu đch
hài tử tổng thị mao thủ mao cước hoang
hoang trương trương. Giá chủng tính cách đặc trưng như quả đắc bất đáo củ chính
thành niên dĩ hậu nhưng nhiên hội biểu hiện xuất lỗ mãng, khinh xuất, phù thao
đích tính cách
nhược điểm .


Dịch nghĩa :  
 Lời hay ý đẹp :

    Bản tính con người khác nhau rất nhiều,
một số trẻ em từ nhỏ đã biết làm việc chăm chỉ kỹ lưỡng, không vội, không cuống,
có đứa thì lúc nào cũng lúng túng chân tay, hoang mang rối loạn. Những đặc
trưng tính cách này nếu không được uốn nắn thì mai sau lớn lên, nó vẫn thể hiện
ra cái nhược điểm khinh xuất, lỗ mãng, xốc nổi, bộp chộp .

               49.事旡定規            合理則為.

天下事固有一定之理,然有一等事如此,似乎可行,又有不可行之處;有一等事如此,似乎可行,又有不可行之處,若此等事,在以義理揆之,決不可預定一必如此必不如此之心,是故孔子云:“君子之于天下也,旡适也,旡莫也,義之与比.

                 Phiên
âm
:
        
  
Sự vô định qui,           hợp lý tắc vi .

       Thiên hạ sự cố hữu nhất định chi lý,
nhiên hữu nhất đẳng sự như thử, tự hồ khả hành, hựu hữu bất khả hành chi xứ,
nhược thử đẳng sự tại dĩ nghĩa lý quĩ chi, quyết bất khả dự định nhất tất như
thử tất bất như thử chi tâm, thị cố Khổng Tử vân : “ Quân tử chi vu thiên hạ
dã, vô thích dã, vô mạc dã, nghĩa chi dữ tỉ”.


 Dịch nghĩa :  
           
Việc không có luật,         hợp lý là làm.

      Mọi sự trên đời tất nhiên đều có sự chuẩn
xác nhất định. Nhưng có những việc dường như làm thế này thì được, nhưng có chỗ
không thỏa đáng; mà cũng có những việc nhìn bề ngoài cảm giác làm thế này không
xong, nhưng vẫn có thể có chỗ khả thi. Giống như thế, khi dùng nghĩa lý để xem
điều đó có khả thi hay bất khả thi, trong đầu không được có tư tưởng bắt buộc
phải làm thế này hay nhất quyết không được làm thế kia. Do đó Khổng tử nói: “Bậc
quân tử đối với những việc trong thiên hạ, không có qui định là phải làm thế
nào, và cũng không có qui định phải làm ra sao, chỉ cần làm tốt công việc thì
áp dụng phương phá, phương thức nào cũng được”.  
黃金法則:

生活是多恣多彩的處理問題時有的應根据固定模式有的則旡一定之規无遇到什么問題,父母都要引導孩子灵活處理,灵活運用.
            Sinh hoạt thị đa thứ đa thái đích xử lý vấn đề
thời hữu đích ứng căn cứ cố định mô thức hữu đích tắc vô nhất định chi qui vô
ngộ đáo thập ma vấn đề, phụ mẫu đô yếu
dẫn đạo hài tử linh hoạt xử lý, linh hoạt vận dụng.

Dịch nghĩa
:  
Lời hay ý đẹp :

  Cuộc sống là phong phú và đa dạng vô
cùng, khi giải quyết vấn đề, có lúc nên căn cứ theo một phương thức cố định, có
lúc lại chẳng có qui tắc nhất định nào cả. Cho dù là đụng phải vấn đề gì, cha mẹ
đều phải dẫn dắt con em mình khéo léo xử trí, linh hoạt vận dụng.

            50. 心小膽大,           訪患未然.

凡人于旡事之時,常如有事而防氾其未然,則自然事不生.若有事之時却如旡事,以定其慮,則其事亦自然消失矣.古人云: “心欲小而膽欲大.”
遇事當如 此處也.
                   Phiên âm:
        
Tâm tiểu đảm đại,         phòng hoạn vị nhiên.

        Phàm nhân vu vô sự chi thời,
thường như hữu sự nhi phòng phạm kỳ vị nhiên, tắc tự nhiên sự bất sinh. Nhược hữu
sự chi thời khước như vô sự, dĩ định kỳ lự, tắc kỳ sự diệc tự nhiên tiêu thất
hĩ. Cổ nhân vân: “Tâm dục tiểu nhi đảm dục đại”.Ngộ sự đương như thử xứ dã.

                            Dịch nghĩa :  

        Nuôi can đảm
lớn,         phòng trước vẫn hơn.

          Người ta gặp lúc không có sự gì xảy ra, cũng nên đề cao cảnh giác như lúc sắp có chuyện vậy,
thường xuyên chú ý những tình huống có thể phát sinh. Như thế sẽ không xảy ra
điều gì bất ngờ ngoài dự kiến. Giả như người ta lúc đụng phải vấn đề thì cũng
có thể bình tĩnh thong thả như không có chuyện gì, rồi bình tĩnh dập tắt nỗi lo
âu trong lòng, vậy là những vấn đề phát sinh đều có thể tháo gỡ dễ dàng. Người
xưa có câu: “ Trong lòng luôn chú ý cẩn thận thì khi hành sự ắt sẽ gan dj dứt
khoát”.Ta thấy mỗi khi gặp sự việc đều nên cứ thế mà làm.
黃金法則:

當今社會,人際竞爭曰益激烈,外向胆大的人容易在激烈竞爭中获得更多机會,而胆小退縮的人往往會失去机會.
Phiên âm:
Đương kim xã hội, nhân tế cạnh tranh viết ích kịch
liệt ngoại hướng đảm đại đích nhân dung dị tại kích liệt cạnh tranh trung trung
hoạch đắc cánh đa cơ hội , nhi đảm tiểu thoái súc đích nhân vãng vãng hội thất
khứ cơ hội.

Dịch nghĩa :
Lời hay ý đẹp :

        
Xã hội ta ngày nay, con người ta cạnh tranh nhau càng mạnh mẽ
sôi nổi.
Những người hướng ngoại dũng cảm sẽ dễ dàng nắm được nhiều cơ hội hơn, còn những
người nhút nhát thì thu mình lại sẽ mất nhiều cơ hội.



               51.外变不惊,          居安思危.

曩者三孽作亂,朕料理軍務,日昃不遑,持心堅定,而外則示以暇每日出游景山騎射.彼時滿州兵俱已出征,余若尽系老箬.遂有不法之人投帖于景山路旁,:“今三孽余及察哈欠叛亂,諸路征討,當此危待之時,何必每日出游景山?”如此造言生事,朕置罔聞.不久三孽及察哈欠俱已剿灭當時.朕若稍有疑懼之意,則人心搖動,或致意外,未可知也.此皆上天垂佑,祖宗神明加护,令朕能堅心籌画,成此大功,國以至甚危而获安也.自古帝王如朕自幼阅历艰难者甚少,今海內承平,迥思前者,數年之間如何阅历,傳覺悚然可惧矣!古人云: “居安思危
正此之未也.

Phiên âm:
       Xử biến bất kinh,                 cư an tư nguy.

       Năng giả tam nghiệt tắc loạn, trẫm liệu
lý quân vụ, nhật trắc bất hoàng, trì tâm kiên định, nhi ngoại tắc thị dĩ hạ mỗi
nhật xuất du Cảnh Sơn kỵ xạ. Bỉ thời Mãn Châu binh cụ dĩ xuất chinh, dư nhược tận
hệ lão nhược. Toại hữu bất pháp chi nhân đầu thiệp vu Cảnh Sơn lộ bàng, vân: “
Kim Tam nghiệt dư Cập sát táp nhĩ bạn loạn, chư lộ chinh thảo, đương thử nguy
đãi chi thời, hà tất mỗi nhật xuất du Cảnh Sơn? Như thử tạo ngôn sinh sự trẫm
trí võng văn. Bất cửu Tam nghiệt Cập sát cáp nhĩ cụ dĩ tiễu diệt đương thời. Trẫm
nhược sảo hữu nghi cụ chi ý, tắc nhân tâm dao động, hoặc chí ý ngoại, vị khả
tri dã. Thử giai thượng thiên thùy hữu tổ tông thần minh gia hộ, lệnh  trẫm năng kiên tâm trù hoạch, thành thử đại
công, quốc dĩ chí thậm nguy nhi hoạch an dã. Tự cổ đế vương như trẫm tự ấu duyệt
lịch gian nan giả thậm thiểu, kim hải nội thừa bình, quýnh tư tiền giả, sổ niên
chi gian như hà duyệt lịch trùyên giác tủng nhiên khả cụ hĩ ! Cổ nhân vân: “Cư
an tư nguy” chỉnh thử chi vị dã !




  
Dịch nghĩa :  
        Bình
t
ĩnh xử lý,      
 ổn định đối nguy.

           Năm đó, đúng lúc Ngô Tam Quế (*)cùng bọn “Tam
phiên” (**) nổi cơn phản loạn. Trẫm đang bận giải quyết những việc quốc gia đại
sự khác. Cả ngày bận ngập đầu, nhưng lòng vẫn giữ bình tĩnh, an định. Bề ngoài
vẫn giữ vẻ thong thả, điềm tĩnh với mọi người, hàng ngày vẫn đến núi Cảnh Sơn
cưỡi ngựa, bắn cung. Lúc ấy, toàn thể đội quân Mãn Châu đều xông pha trên tiền
tuyến, những người ở lại, đều là những tân binh hay người già yếu. Trong hoàn cảnh
đó, có một số phần tử bất hợp pháp đem vứt mấy mảnh giấy bên đường Cảnh Sơn rằng:
“ Giờ đây đang có “Tam phiên” cùng Sát cáp nhĩ bồ nhĩ Nê nổi cơn phản loạn, đại
quân khắp ngả đường đang dẹp loạn ngày đêm. Tình thế nguy cấp như vậy sao còn
thừa hơi đến Cảnh Sơn du ngoạn ?                            Với những hiện tượng
sinh sự đặt điều thế này, ta không chút để mắt tới, coi như không hay biết gì.
Không lâu sau bọn phản loạn “Tam phiên” (*)và Sát Cát nhĩ bồ nhĩ Nê đều bị dẹp
tan. Lúc đó nếu ta lộ chút vẻ hoang mang thôi, tâm tư sẽ hỗn loạn, rất khó nói
sẽ xảy ra chuyện gì ngoài ý muốn hay không ? Đây đều là nhờ ơn trời đất phù hộ,
liệt tổ liệt tông âm thầm độ trì, khiến ta kiên định vững lòng chuyên tâm trù
tính, cuối cùng đạt được thắng lợi, làm cho cục diên hỗn loạn lại trở nên ổn định
vững chắc. Các hoàng đế từ xưa tới nay từ nhỏ đã từng va chạm như ta, quả thật
không nhiều! Giờ đây thiên hạ thái bình, nhưng khi hồi tưởng lại nhưng nguy nan
vừa trải qua trong mấy năm vừa rồi, đều cảm thấy có chút sợ hãi. Cổ nhân nói:
“Không nên gối cao yên giấc” chính là đạo lý này.
黃金法則:
                                                      我們的父母對獨生子女應當少一點怜憫和照顧,多給他們一些磨练的机會.對孩子進行忧患教育,最好的老師就是各种艱難困苦.

Phiên âm: 
             Ngã
môn đích phụ mẫu đối độc sinh tử nữ ứng đương thiểu nhất điểm linh mẫn hòa chiếu
cố, đa cấp tha môn nhất thử ma luyện đích cơ hội . Đối hài tử tiến hành ưu hoạn
giáo dục , tối hảo đích lão sư tựu thị các chủng gian nan khốn khổ.
Dịch nghĩa :
      Lời hay ý đẹp :

      Bậc làm cha mẹ đối với con một không nên quá nuông chiều và thương hại.
Mà nên cho chúng có nhiều cơ hội để rèn luyện hơn . Người thầy rèn cho chúng sức
chịu đựng giỏi nhất, chính là phương pháp loại bỏ được gian nan khắc khổ tốt nhất.



____________________________________
(*) Ngô Tam Quế (tiếng Hán: 吳三桂,; tự: Trường Bạch 長白 hay Trường  長伯; 1612  2
tháng 10
 năm 1678), là Tổng binh cuối triều Minh, sau đầu hàng và trở thành tướng của nhà
Thanh
.
(**) Loạn Tam phiên (chữ Hán: 三藩之亂 tam phiên chi loạn; 1673-1681) là
cuộc chiến giữa 3 phiên vương phía nam lãnh thổ Trung Quốc do Ngô Tam Quế cầm
 đầu.

            52.    己所不能,         嘉彼所能.

凡人能量己之能与不能,然后知人之艱難.朕自幼行走固多,正剿噶欠丹三次行師,雖未對故交戰,自料忧可以立在人前.但念越誠勇將,則知朕斷不能為.何則?朕自幼未常登墻一次,每自高岩下視,頭猶眩暈如彼高城,何能上登?自己絕不能之事,豈可易視?所以朕每見越誠勇將,必寔怜之且甚服之.
Phiên âm:

      Kỷ sở bất năng,             gia bỉ sở năng .

        Phàm
nhân năng lượng kỷ chi năng dữ bất năng, nhiên hậu tri nhân chi gian nan. Trẫm
tự ấu hành tẩu cố đa, chinh tiễu Cát Nhĩ Đan tam thứ hành sự , tuy vị đối địch
giao chiến, tự liệu do khả dĩ lập tại nhân tiền. Đản niệm việt thành dũng tướng,
tắc tri trẫm đoan bất năng vi. Hà tắc? Trẫm tự ấu vi thường đăng tường nhất thứ,
mỗi tự cao nhai hạ thị, đầu do huyễn vựng như bỉ cao thành, hà năng thượng đăng
?Tự kỷ tuyệt bất năng chi sự, Khởi khả dị thị? Sở dĩ trẫm mỗi kiến việt thành
dũng tướng, tất thực linh chi thả thâm phục chi.

 

Dịch
nghĩa:
      Mình không
có tài,      nên phục người có tài.

          Con người ta nên hiểu rõ bản thân mình làm được những
gì và không làm được những gì, như thế mới thấu hiểu nỗi gian nan vất vả của
người khác
. Từ nhỏ, trẫm thường
đi lại bên ngoài, ba lần chỉ huy đại quân chinh phục Cáp Nhĩ Đan, tuy rằng chưa
thân chinh giao chiến với kẻ thù trên tiền tuyến, nhưng ta tin rằng ta dám đứng
trước quân thù. Nhưng nghĩ đến các tướng quân chỉ huy binh sĩ công thành tác
chiến kia, liền biết bản thân mình không làm được. Tại sao  ư? Bởi vì ta từ nhỏ đến lớn, chưa từng một lần
trèo qua bức tường cao, mỗi lần đứng trên bờ vực cao nhìn xuống dưới là cảm thấy
hoa mắt chóng mặt. Như bức tường thành cao lớn nhường kia làm sao có thể trèo
lên nổi? Mỗi lần ta nhìn thấy các quân binh tướng xung phong lâm trận không những
thấy rất thương cảm cho họ, mà còn thấy bái ho vô cùng.

黃金法則:

要想讓孩子出类拔卒,父母就應該從小教育孩子發現別人的优點,學習別人的优點,這樣才能遂步提高自己,超越別人.
Phiên âm:
       Yeáu töôûng nhöôïng haøi töû xuaát loaïi baït toát, phuï maãu töïu öùng
caùi toøng tieåu giaùo duïc haøi töû phaùt hieän bieät nhaân ñích öu ñieåm,
hoïc taäp bieät nhaân ñích öu ñieåm, giaù daïng taøi naêng toaïi boä ñeà cao
töï kyû sieâu vieät bieät nhaân .
Dịch
nghĩa:
Lời hay ý đẹp :

       Muốn
con cái trở thành kỳ tài xuất chúng, thì bậc cha mẹ nên dạy cho chúng từ nhỏ phải
biết phát hiện ra ưu điểm của người khác, học tập những ưu điểm đó. Như thế mới
có thể dần dần nâng cao bản thân, vượt lên người khác .

           53.寔心相待,         不務虛名.

吾人凡事惟當以誠,而旡務虛名.朕自幼登极,凡祀壇廟神佛必以誠敬在心.即理事務,對諸大臣,總以寔心相待,不務虛名,故朕所行事,一出于真誠,旡纤毫虛飾.

Phiên âm :
           Thực tâm tương đãi,         bất vụ hư danh.

         Ngô nhân phàm sự duy đương dĩ thành, nhi
vô vụ hư danh. Trẵm tự ấu đăng cực phàm tự đàn miếu thần phật, tất dĩ thành
kính tại tâm .Tức lý sự vụ đối chư đại thần, tổng dĩ thực tâm tương đãi, bất vụ
hư danh. Cố trẫm sở hành sự, nhất xuất vu chân thành vô tiêm hào hư sức.

Dịch nghĩa :
          Thực tâm đối
đãi ,           không vì danh hão .

       Chúng ta làm bất cứ việc gì cũng phải
làm cho thật lòng, thật ý, quyết không được truy cầu hư danh. Từ khi trẫm lên
ngôi hoàng đế đến nay, gặp những việc như cúng bái trời đất, tổ miếu thần phật,
đều phải mang một lòng thành kính, thực hiện bằng cung cách kính ngưỡng.  Cho dù là giải quyết việc triều chính thường
ngày, hay đối đãi các vị đại thần cũng luôn lấy thành tâm ra tương đãi, không cần
hư danh . Cho nên mọi thứ ta làm đều xuất phát từ lòng thành tâm, tuyệt đối
không có chút gì giả tạo trang sức gì cả .
黃金法則:

求真務寔是中华傳統美德的一頂重要內容,也是曆代名人教育子第處理人际关系的基本态度和處世要求.

Phiên âm :

Cầu
chân vụ thực thị Trung Hoa truyền thống mỹ đức đích nhất   đỉnh trọng yếu nội dung, dã thị thế đại danh
nhân giáo dục tử đệ sử lý nhân tế quan hệ đích cơ bản thái độ hòa sử thế yêu cầu.
Dịch nghĩa:
 Lời hay ý đẹp :

  Cầu
thực, làm thực là một nội dung quan trọng trong truyền thống tốt đẹp của Trung
Hoa, cũng là yêu cầu của xử thế và cung cách cơ bản khi xử lý quan hệ xã hội mà
danh nhân các đời giáo dục con cái của mình.

          54. 見人得失,            如己得失.
凡人持身處世,惟璫以恕存心,見人有得意事,便當生歡喜心;見人有失意事,便當生伶憫心此自己寔受用處若夫忌人之成,樂之敗,何与人事?徒自坏心述耳.古語云:
“見人之得,如己之得;見人之失,如己之失.”如是存心天必佑之.

Phiên âm :
         Kiến
nhân đắc thất,         như kỷ đắc thất.

      Phàm nhân đãi thân xử thế, duy đang dĩ thứ
tồn tâm, kiến nhân hữu đắc ý sự, tiện đương sinh hoan hỷ tâm, kiến nhân hữu thất
ý sự tiện linh mẫn tâm thử giai tự kỷ thực thụ dụng xứ nhược phù kỵ nhân chi
thành, lạc nhân chi bại, hà dữ nhân sự? Đồ tự hoại tâm thuật nhĩ . Cổ nhân vân:
“ Kiến nhân chi đắc, như kỷ chi đắc; kiến nhân chi thất , như kỷ chi thất”. Như
thị tồn tâm thiên tất hữu chi.    

Dịch nghĩa :
            Xem việc của
người,      như việc của mình.

Mỗi người ứng xử việc đời, đều nên có một tấm
lòng khoan dung độ lượng. Thấy người khác hạnh phúc, cũng nên mừng cho người ta,
thấy người gặp hoạn nạn khó khăn phiền phức, cũng nên tỏ thái độ cảm thông. Làm
như thế sẽ có ích cho bản thân. Nếu lúc nào cũng đố kỵ với thành công của người
khác mà lại đem ra cười cợt thì sao còn có thể qua lại với người ta được đây?
Chỉ có thể nói cái tâm mình không ngay mà thôi. Cổ nhân có câu : “ Thấy người
khác được, cũng như mình được, thấy người khác mất cũng như ta mất”. Có được tấm
lòng như thế thì nhất định sẽ được trời phù hộ.

黃金法則:

你关愛別人的時候,就等于別人关愛你.

Phiên âm:
        Nhĩ
quan ái biệt nhân đích thời hậu, tựu đẳng vu biệt nhân quan ái nhĩ.

Dịch
nghĩa:
Lời hay ý đẹp :

        Khi anh quan tâm đến người khác thì
cũng bằng người khác quan tâm đến anh .

              55. 為人君者,       豈可諉過.

曩者三逆未叛之先,朕与議諸王大臣議政藩之事內中有言璫遷者,有言不可遷者.然在當日之勢,遷之亦叛,不遷,亦叛,遂定遷藩之議.三逆既叛,大學士索顧图奏曰: “前議三藩遷者,皆宜正以國法.”朕曰:“不可廷議之時言三藩當遷者,朕寔主之.今事至此,豈可归過于他人?”,在廷諸臣一聞朕旨,莫不感激零,心悅誠服.朕從來諸事,不肯委罪于人,矧軍國大事而肯卸借過于諸大臣乎?

Phiên âm :
          Vi
nhân quân tử giả,        khởi khả ủy quá .

        Năng giả tam nghịch vị bạn chi tiên, trẫm dữ nghị chư vương thần nghị chính
phiên chi sự nội trung hữu ngôn đương thiên giả, hữu ngôn bất khả thiên giả.
Nhiên tại đương nhật chi thế, thiên chi diệc bạn, bất thiên, diệc bạn, toại định
thiên phiên chi nghị. Tam nghịch ký bạn, đại học sĩ Sách Cố đồ tấu viết: “ Tiền
nghị tam phiên thiên giả, giai nghi chính dĩ quốc pháp”.   Trẫm viết:
“ Bất khả đình nghị chi thời ngôn tam phiên đương thiên giả, trẫm thực chủ chi.
Kim sự chí thử, khởi khả qui quá vu tha nhân ”?Thời, tại đình chư thần nhất năn
trẫm chỉ, mạc bất cảm kích thế linh tâm duyệt thành phục. Trẫm tòng lai chư sự
bất khẳng ủy tội vu nhân, thẩn quân quốc đại sự nhi khẳng tá quá vu chư đại thần
hồ?” 

Dịch nghĩa :
      Làm
vua vì dân,      không thể đổ lỗi cho người
.

        Trước
lúc bọn “Tam nghịch” gây rối, ta cũng đã từng bàn bạc với các đại thần về việc
chính sự loại bỏ “Ngô Tam Quế” và bè đảng của hắn; có người đồng ý loại bỏ, có
người lại phản đối. Nhưng tình thế lúc đó cho dù có loại bỏ hay không thì chúng
cũng sẽ nổi loạn. Vậy ta quyết định lọai bỏ chúng. Sau khi bè lũ Ngô Tam Quế,
Tam nghịch nổi loạn, đại học sĩ Sách Cố Đồ dâng biểu tâu rằng: “ Trước kia đã đề
xuất loại trừ Tam Phan  ( 3 đại thần họ
Phan) và xử lý theo luật pháp”. Ta nói: “ Không được !” khi triều đình chủ
trương loại bỏ Tam Phan kỳ thực là quyết tâm của chính trẫm. Bây giờ thế sự đã
đến nỗi này, làm sao có thể ghép họ vào tội lỗi đây ”? Lúc đó, các vị đại thần
đều coi ý của ta là thánh chỉ, ai cũng cảm kích tâm phục, khẩu phục. Ta không bao
giờ đổ trách nhiệm cho người khác. Vậy thì sai lầm về quân sự, lẽ nào ta lại đổ
lỗi lên đầu các vị đại thần được ? 
黃金法則:

看到自己的行為能力他人帶來的影晌感到自己是為人所矚的,是有用處的從此而生自毫感和責任心.這些都對孩子的健康成長有利足進自己更加努力奮鬥因為自己肩負責任.
Phiên âm:

    Khán đáo tự kỉ đích
hành vi năng lực tha nhân đái laiddichs ảnh hưởng cảm đáo tự kỉ thị vi nhân sở
thuộc đích. Thị hữu dụng sử đích tòng thử nhi sinh tự hào cảm hòa trách nhiệm
tâm. Giá thử đô đối hài tử đích kiện khang thành trưởng hữu lợi túc tiến tự kỷ
cánh gia nỗ lực phấn đấu nhân vi tự kỷ kiên phụ trách nhiệm.
Dịch nghĩa :
Lời hay ý đẹp :
            
Thấy hành vi của
mình có thể mang lại ảnh hưởng cho người khác, cảm thấy mọi người đều nhìn vào
mình, thế là người hữu dụng, từ đó sinh ra tự hào và có tinh thần trách nhiệm.
Điều này có ích lợi rất lớn cho sự phát triển lành mạnh của trẻ, kích thích
chúng nỗ lực phấn đấu vì bản thân đang gánh trách nhiệm .

            56.立言行事,              旡愧今生.

春至時和,百花尚鋪,一段錦秀,百鳥目囀旡數佳音,何況為人在世,幸遇升平,安居樂業,自當立一番好言,行一番好事,使旡愧于今生,方為從化之良民而旡憾于盛世矣.朕深望之.
Phiên âm :

               
Lập ngôn hành sư,         vô quí
kim sinh.

     
 Xuân chí thời hòa, bách hoa thướng
phô, nhất đoan cẩm tú, bách điểu mục chuyển vô số giai âm, hà huống vi nhân
sinh thế, hạnh ngộ thăng bình  an cư lạc
nghiệp , tự đương lập nhất phiên hảo ngôn, hành nhất phiên hảo sự, sử vô quí vu
kim sinh, phương vi tòng hóa chi lương dân nhi vô hãm vu thịnh thế hĩ. Trâm
thâm vọng chi.

 Dịch
nghĩa :

           Nói lời giữ lời,        không thẹn với đời.

           Mùa
xuân đến, hoa tươi mọi loài còn có thể đem lại cho nhân gian những cảnh sắc mỹ
lệ, chim chóc khắp chốn còn có thể đem lại cho người ta tiếng hót reo vui, huống
hồ loài người trên thế gian này may mắn sống trong thời đại ca vũ thanh bình,
còn có thể an cư lạc nghiệp, thì càng nên sáng lập học thuyết, làm nên công lao
sự nghiệp vĩ đại, thế mới không hổ thẹn một kiếp nhân sinh, làm công dân tốt của
quốc gia, mới không hổ thẹn với thái bình thịnh thế. Ta thật sự hy vọng nhìn thấy
cảnh tượng này.



黃金法則:
絕大多數人在智力上沒有多大差別,一个人能否在事業上取得成功,关鍵在于他是否有理想.
Phiên âm :

         Tuyệt đại đa số nhân tại trí lực thượng mỗi hữu
đa đại soa biệt, nhất cá nhân năng phủ tại sự nghiệp thượng thủ đắc thành công,
quan kiện tại vu tha thị phủ hữu lý tưởng.

Dịch nghĩa:
Lời hay ý đẹp :

    Rất
nhiều người không hơn kém nhau về mặt trí lực. Một người có thể đạt được thành
công trong sự nghiệp hay không, mấu chốt là ở anh ta có lý tưởng hay không.

               57. 慎重持敬,     謹終如始.

凡天下事不輕忽,雖至微至易者,皆當以慎重處之.慎重者敬也.璫旡事時,敬以自持;而有事時,即敬之以應事物;必謹終如始,慎修思永,習而安焉,自旡廢事蓋敬以存心則心体湛然居中,即如主人在家,自能整飭揶務,此古人所謂敬以直內也.“孔記篇首以毋不敬冠之,圣人一言,至理备焉.


Phiên
âm
           Thận trọng trì kính,          cẩn
chung như thủy.

        Phàm thiên hạ sự bất khinh hốt, tuy chí
vi chí dịch giả, giai đương dĩ thận trọng xử chi. Thận trọng giả kính dã. Đương
vô sự thời, kính dĩ tự trì; nhi hữu sự thời, tức kính chi dĩ ứng sự vật; tất cẩn
chung như thủy, thận tu tư vĩnh, tập nhi an yên, tự vô phế sự cái kính dĩ tồn
tâm tắc tâm thể trạm nhiên cư trung, tức như chủ nhân tại gia, tự năng chỉnh sức
da vụ, thử cổ nhân sở vị kính dĩ trực nội dã. “Khổng ký” thiên thủ dĩ “ vô bất
kính” quán chi, thánh nhân nhất ngôn, chí lý bị yên, 

Dịch nghĩa :
                  Cẩn trọng nắm chắc ,          chu đáo trước sau.

Đối
với bất cứ điều gì xảy ra trên thế gian, đều không được hoang mang, sơ xuất,
cho dù là những việc rất đơn giản, dễ dàng thành công, cũng nên giải quyết cẩn
thận. Cái gọi là cẩn thận có nghĩa là “kính”. Khi không có sự việc gì xảy ra, phải
dùng chữ “kính” để đưa hạnh kiểm của mình vào khuôn phép. Khi gặp chuyện, lấy
thái độ “kính” của mình để xử lý. Trong mọi tình cảnh đều phải theo nguyên tắc:
chú ý, kiên trì, cẩn trọng, cân nhắc kỹ lưỡng tạo thành thói quen tốt, ắt sẽ
không phạm phải sai sót quá lớn. Mỗi người mà trong lòng đều có chữ “kính” thì
giống như chủ trong nhà , có thể làm tốt việc nhà một cách tự nhiên, đây là hàm
nghĩa “kính” có thể khiến cho tấm lòng người ta trở nên chính trực mà cổ nhân
hay nói. Cuốn”Khổng kí” lấy “không được bất kính” ra làm mở đề, câu nói này của
thánh nhân có lý vô cùng.

黃金法則:

故事,貴在持之以恆.
Phiên âm:

          Cố sự, quí tại đặc chi  dĩ hằng.

 Lời hay ý đẹp :

Làm
việc quí ở sự kiên gan bền chí .


                       58.事旡巨細,          不可懈慢.

頃因刑部匯題內有一字错誤,朕以閫笔改政發出.各部院本章朕皆一一全覽,外人謂朕未必通覽,每多疏忽.故朕于一應本章,見有错字,必行改正;翻譯不堪者亦改削之.當用兵時,一日三四百本章,朕悉亲覽旡遺.今一中仅覽四五十本而已覽之何難?一切事務,總不可稍有懈慢之心也.

Phiên
âm :
          Sự vô cự tế,       bất khả giải mạn .

        Khoảnh nhân hình bộ hối đề nội hữu nhất
tự thác ngộ, trẫm dĩ khổn bút cải chính phát xuất. Các bộ viện bản chương trẫm
giai nhất nhất toàn lãm, ngoại nhân vị trẫm vị tất thông lãm, mỗi đa sơ hốt. Cố
trẫm vu nhất ứng bản chương, kiến hữu thác tự tất hành cải chính; phiên dịch bất
kham giả diệc cải tước chi. Đương dụng binh thời, nhất nhật tam tứ bách bản
chương, trẫm tất thân lãm vô di. Kim nhất trung cận lãm tứ ngũ thập bản nhi dĩ
lãm chi hà nan ? Nhất thiết sự vụ, tổng bất khả sảo hữu giải mạn chi tâm dã.

 Dịch nghĩa :

          Việc nhỏ sai sót,            không được bỏ qua.

Ngày
trước, do công văn của bộ Hình trình lên có một chữ viết sai, trẫm liền dùng
bút mực đỏ sửa lại rồi mới ban xuống. Tấu trình của các bộ, các viện, ta đều
phê lần lượt. Những người dưới thường cho rằng ta chưa chắc đã phê duyệt hết cả
một lượt, nên họ mới hay mắc sai sót. Chính vì do nguyên do này mà trong toàn bộ
những tấu chương mà ta xem được, vừa phát hiện ra một chữ sai ta liền sửa lại;
những văn tự dịch không chuẩn xác, ta cũng tiến hành chỉnh sửa lại. Ngày trước
lúc đất nước đang có chiến sự, mỗi ngày tấu chương trình lên có tới vài ba bốn
trăm bản, ta đều phê duyệt hết, không bỏ sót lại bản nào. Ngày nay các tấu
chương đưa lên không quá bốn năm chục bản, phê duyệt hết thì có gì khó khăn ?
Cho dù làm việc gì, dù lớn hay nhỏ, không được có chút suy nghĩ lơ là.

黃金法則:

Phiên
âm :
從小养成的好習慣伴隨人的生, 終身愛用.
Toøng tieåu döôõng thaønh ñích haûo taäp quaùn baïn tuøy nhaân ñích sinh, chung thaân aùi
duïng.


 Dịch nghĩa :
Lời hay ý đẹp :

Những thói quen tốt được nuôi dưỡng từ nhỏ, sẽ theo
người ta đi suốt cuộc đời, rồi cuối cùng sẽ có lúc dùng đến nó .

          59. 法令之行,       率先身之.

如朕為人上者,欲法令之行,惟身先之,而人自從.即如吃烟一節,雖不堪关系,然火烛之起多由此,故朕時時禁止.然朕非不會吃烟,幼時在養母家,頗善于吃烟.今禁人而己用之,將何以服之?因而永不用也.

Phiên
âm :

   Pháp lệnh chi hành,         suất tiên thân chi .

       Như trẫm vi nhân thượng giả, dục pháp lệnh
chi hành, duy thân tiên chi nhi nhân tự tòng, tức như ngật yên nhất tiết, tuy bất
thậm quan  hệ, nhiên hỏa trùng chi khởi
đa do thử. Cố trẫm thời thời cấm chỉ. Nhiên trẫm phi bất hội ngật yên, ấu thời
tại dưỡng mẫu gia, pha tiện vu ngật yên. Kim cấm nhân nhi kỷ dụng chi, tương hà
dĩ phục chi ? Nhân nhi vĩnh bất dụng dã.

Dịch nghĩa :

                 Chấp hành mệnh lênh,     mình hãy làm gương .

        Trẫm nay là vua một nước, nhưng muốn thực thi pháp luật qui định một cách
thuận lợi thì mình phải làm một tấm gương sáng trước đã , người khác mới chịu
noi theo. Riêng như việc hút thuốc, tuy không được coi là việc to tát, nhưng hỏa
hoạn thường từ đó mà ra. Cho nên ta khuyên răn các người khác không được hút
thuốc, trên thực tế, ta không phải là không biết hút thuốc, mà từ nhỏ ở nhà mẹ
nuôi, ta đã thích hút thuốc rồi. Bây giờ ta hạ lệnh cấm chỉ người khác hút thuốc
mà bản thân thì trái lại, thì sao có thể khiến người ta tin phục ? Vì thế ta
quyết không bao giờ hút thuốc nữa .


黃金法則:
教者必己正,家長,特別是父母,是孩子最早,最直接,最經常的模訪對象,一言一行,一舉一動,都對子女產生看深刻而持久的影晌.
Phiên âm:

         Giaùo giaû taát kyû chính , gia
tröôûng, ñaëc bieät thò phuï maãu, thò haøi töû toái taûo, toái tröïc tieáp,
toái kinh thöôøng ñích moâ phoûng ñoái töôïng, nhaát ngoân, nhaát haønh, nhaát
cöû, nhaát ñoäng ñoâ ñoái töû nöõ saûn sinh khaùn thaâm khaéc nhi ñaëc cöûu
ñích aûnh höôûng.

Dịch nghĩa :
         Lời hay ý đẹp :

Là người thầy, phải biết
gương mẫu.  Các bậc phụ huynh, nhất là
cha mẹ là đối tượng trẻ em bắt chước sớm nhất, trực tiếp nhất và thường xuyên
nhất. Mỗi lời nói, hành vi, mỗi cử chỉ nhỏ, mỗi hành động đều gây ảnh hưởng sâu
sắc và lâu dài cho trẻ em.

          60. 以身作則,          而后求人.

凡人有訓人治人之職者,必身先之可也.“大學”有云:“君子有諸己而后諸者人,旡諸己而后非者人.”特為身先而言也.

Phiên âm :

              Dĩ thân tác tắc,       nhi hậu cầu nhân.

Phàm nhân hữu huấn nhân trị nhân chi chức giả,
tất thân tiên chi khả dã. “Đại học” hữu vân : “Quân tử hữu chư kỉ nhi hậu chư
giả nhân, vo chư kỉ nhi hậu phi giả nhân” đặc vi thân tiên nhi ngôn dã.
Dịch nghĩa :
      
         Mình làm gương trước,     yêu cầu người sau.

     
Phàm đã là những người lãnh đạo, người quản lý, phải là người có trách
nhiệm, thì phải lấy mình làm gương. Sách “Đại học” có viết : “ Tự bản thân người
quân tử có ưu điểm, mới có thể khiến người khác làm theo. Bản thân không có
chút khuyết điểm nào về mọi mặt thì sau đó mới được chỉ chích khuyết điểm của
người khác”. Đây là lời nói của những bậc thường xuyên luôn lấy mình làm gương.

黃金法則:

以身作則的教子原則,是古代教育家的教育思想寔施于子女教育的一个非常重要的方法.

Phiên
âm :

        Dó thaân taùc taéc ñích giaùo töû
nguyeân taéc, thò coå ñaïi giaùo duïc gia ñích giaùo duïc tö töôûng thöïc thi
vu töû nöõ giaùo duïc ñích nhaát caù phi thöôøng troïng yeáu ñích phöông phaùp.

Dịch nghĩa :
Lời hay ý đẹp :

Nguyên
tắc dạy con lấy mình làm gương, là một phương pháp vô cùng quan trọng của các
nhà giáo dục cổ xưa đem ra giáo dục con cái .


61. 虛己游世,  
     自旡禍患.

子曰:“吳非斯人之徒与而誰与?”人生斯世,自小而壯自壯而老,孰能一日不与斯世斯人相周旋那?顾應之得其道,我与世相安,應之不得其道,則我与世相違.庄子曰:“人能虛己以游世其孰能害之?此言善矣!”

Phiên âm :
                    Hư kỷ du thế,           tự vô hạo hoạn.

        Tử viết : “ Ngô phi tư nhân chi đồ dữ nhi thùy dữ ?”Nhân sinh tư thế tự tiểu nhi
tráng, tư tráng nhi lão, thục năng nhất nhật bất dữ tư thế tư nhân tương chu
toàn na? Cổ ứng chi đắc kỳ đạo, ngã dữ thế tương an, ứng chi bất đắc kỳ đạo tắc
ngã dữ thế tương vi. Trang Tử viết: “Nhân năng hư kỷ dĩ du thế , kỳ thục năng hại
chi ? Thử ngôn thiện hĩ !”

Dịch nghĩa :

             Khổng Tử nói: “ Tôi không giao thiệp
với mọi người thì còn giao thiệp với ai nữa?”Người ta sống trong thế gian này ,
từ nhỏ đến lúc trưởng thành, từ trưởng thành đến khi già cả, ai có thể  một ngày không qua lại với người khác ? Chỉ có
tuân theo qui luật khách quan mới có thể bình yên vui sống với mọi người, nếu
không tuân theo qui luật khách quan thì sẽ quay lưng lạ với thế đạo. Tran Tử
nói: “Một người có thể giao thiệp với người khác một cachs khiêm tốn , thì còn
ai có thể gây hại cho anh ta được ?” Lời nói này thật là chí lý vậy thay ! 


黃金法則:

交朋友能使人有一种归宿感,大多數孩子在成長過程中都有好朋友和他們一起探索人生,分享其中的苦乐.在家靠父母,出門靠朋友.
Phiên
âm :
      Giao baèng höõu naêng söû nhaân höõu
nhaát chuûng qui tuùc thaønh , ñaïi ña soá haøi töû taïi thaønh tröôûng quaù
trình trung ñoâ höõu haûo baèng höõu hoøa tha moân nhaát khôûi thaùm saùch
nhaân sinh, phaân höôûng kyø trung ñích khoå laïc. Taïi gia khaûo phuï maãu, xuaát
moân khaûo baèng höõu.

 Lời hay ý đẹp :

      Kết bạn có thể làm cho người ta qui tụ được
tình cảm. Phần lớn trẻ em trong quá trình trưởng thành đều có bạn thân, chúng
cùng khám phá cuộc đời, cùng chia ngọt sẻ bùi với nhau. Ở nhà nhờ cậy cha mẹ.
ra ngoài cậy nhờ bạn bè .
                                                                                    
                    

                                                    Tháng 7 năm 2013

                                                   
                                                          Ngô
Như Sâm – Đoàn Như Trác

                                                           0243. 993. 1845





Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Cây súng vầng trăng

301 Câu đố cho trẻ nhỏ